vanban.org

Quyết định 155/2020/QĐST-KDTM — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N Trụ sở: Số 2 đường L, phường T, quận B,thành phố H; Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T - Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Xuân L - Phó giám đốc phụ trách điều hành Ngân hàng N chi nhánh Đ; Người đại diện theo ủy quyền của ông Trịnh Xuân L: Ông… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng N - Ông Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
---------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 155/2020/QĐST-KDTMĐông Anh, ngày 23 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Biên bản hòa giải thành ngày 15 tháng 12 năm 2020 về việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 131/2020/TLST-KDTM ngày 13 tháng 10 năm 2020.

XÉT THẤY:

Các thỏa thuận của các đương sự được ghi trong Biên bản hòa giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N

Trụ sở: Số 2 đường L, phường T, quận B,thành phố H; Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T - Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Xuân L - Phó giám đốc phụ trách điều hành Ngân hàng N chi nhánh Đ; Người đại diện theo ủy quyền của ông Trịnh Xuân L: Ông Trần Văn M - Phó giám đốc Ngân hàng N chi nhánh Đ; Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Hoàng S - Giám đốc phòng giao dịch D, Ngân hàng N chi nhánh Đ theo Giấy ủy quyền số 01/UQ-NHNo.ĐA-TH ngày 23/10/2020/

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 197x và bà Ngô Thị L, sinh năm 197x; Cùng trú tại: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố H.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 195x (mẹ ông B);

2. Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 200x (con ông B, bà L);

3. Cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 22/4/200x (con ông B, bà L);

(Ông B, bà L là người đại diện theo pháp luật của cháu T).

Cùng trú tại: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố H.

2. Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về số tiền phải thanh toán:

Ông Nguyễn Văn B, bà Ngô Thị L và Ngân hàng N xác nhận tính đến ngày 15/12/2020 vợ chồng ông B, bà L còn nợ Ngân hàng N tổng số tiền là: 2.656.383.562 đồng (Hai tỷ, sáu trăm năm mươi sáu triệu, ba trăm tám mươi ba nghìn, năm trăm sáu mươi hai đồng); Trong đó, nợ gốc là 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 457.643.836 đồng, nợ lãi quá hạn là 198.739.726 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201800758 ngày 01/02/2018 và Giấy nhận nợ ngày 01/02/2018.

Về phương thức trả nợ:

Đến hạn cuối cùng là ngày 31/12/2021, ông Nguyễn Văn B và bà Ngô Thị L phải trả toàn bộ số tiền nợ là 2.656.383.562 đồng và tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ nợ gốc (2.000.000.000 đồng) kể từ ngày 16/12/2020 đến khi thanh toán khoản nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201800758 ngày 01/02/2018 và Giấy nhận nợ ngày 01/02/2018 cho Ngân hàng N theo lộ trình cụ thể sau:

- Từ tháng 01 năm 2021 đến hết tháng 11 năm 2021, mỗi tháng ông B, bà L phải trả Ngân hàng N tối thiểu số tiền 3.000.000 đồng và trả vào ngày 28 hàng tháng.

- Ngày 31/12/2021, ông B, bà L phải thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng N.

- Toàn bộ số tiền ông B, bà L trả cho Ngân hàng N sẽ được thu vào tiền nợ gốc, sau khi thu hết tiền nợ gốc mới được thu vào tiền nợ lãi.

Về thực hiện nghĩa vụ đảm bảo: Trường hợp ông B, bà L vi phạm bất kỳ kỳ trả nợ nào theo thỏa thuận trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 71(1), tờ bản đồ số 2, diện tích 198,5 m2 tại địa chỉ Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BG 145513, số vào sổ cấp GCN: 2121.QĐ-UBND.2011 CH.00032.2011 cấp ngày 21/6/2011 mang tên ông Nguyễn Văn B.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn B và bà Ngô Thị L đối với Ngân hàng N. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông B, bà L vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng N.

Các bên thống nhất ông Nguyễn Văn B và bà Ngô Thị L phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn B và bà Ngô Thị L phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật là: 42.564.000 đồng (Bốn mươi hai triệu năm trăm sáu mươi tư nghìn đồng). Trả lại Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 41.276.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2018/0017757 ngày 09/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ