vanban.org

Quyết định 154/QĐ-TA

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 30/11/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Nguyễn Văn C1 (Út C1), sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ 13, khóm C, phường B, thành phố Đ, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: tổ 13, khóm C, phường B, thành phố Đ, tỉnh An Giang. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 154/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kiều Nga.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Phát Huy.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An

Giang, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý

hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số

161/QĐ-TA ngày 22 tháng 11 năm 2018 đối với:

Nguyễn Văn C1 (Út C1), sinh năm 1989; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: tổ 13, khóm C, phường B, thành phố Đ, tỉnh An Giang;

Nghề nghiệp: làm thuê;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Đạo phật;

Trình độ văn hóa: 05/12.

Chỗ ở hiện nay: tổ 13, khóm C, phường B, thành phố Đ, tỉnh An Giang;

Tiền án, tiền sự: không xác định.

Con ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị S.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ; là đại diện theo ủy quyền; có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên họp: Ông

Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên; có mặt.

NHẬN THẤY:

Ngày 26/6/2018, C1 bị Công an phường B mời làm việc về hành vi sử dụng

trái phép chất ma túy và đưa đi xét nghiệm ma túy với kết quả dương tính. Do đó, lập biên bản vi phạm đối với C1.

Đến ngày 06/7/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B ban hành Quyết

định số 312/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với C1 với thời gian giáo dục 03 tháng, từ ngày 06/7/2018 đến ngày 06/10/2018.

Ngày 23/9/2018, C1 tiếp tục sử dụng chất ma túy đến ngày 24/9/2018 bị công

an phường B mời thử test kết quả dương tính với chất ma túy và lập biên bản vi phạm. Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B ban hành Quyết định số 295/QĐ-UB chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường.

Ngày 24/9/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B ban hành Quyết định

số 294/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C1.

Ngày 01/10/2018, Ủy ban nhân dân phường B ban hành Văn bản Đề nghị số

33/ĐN-UBND đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội và Phòng Tư pháp thành phố Đ xem xét việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C1 nhằm giúp đỡ C1 có điều kiện cai nghiện, học nghề để trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

Theo Thông báo số 145/TB-PTP ngày 08/11/2018, Phòng Tư pháp thành

phố Đ kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với C1 bảo đảm về tính pháp lý.

Ngày 20/11/2018, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Đ

ban hành văn bản số 146/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C1 với thời hạn tập trung từ 18 đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

- Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố

Đ: Giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C1 với thời gian tập trung cai nghiện từ 18 đến 24 tháng.

- Ý kiến của C1: Xác định có sử dụng ma túy như hồ sơ thể hiện, chấp

nhận đề nghị của Cơ quan đề nghị và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

+ Việc tuân theo pháp luật của Tòa án, từ khi thụ lý đến thời điểm này,

Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 3, 8, 9 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.

+ Về điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, C1

đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường theo Quyết định số 312/QĐ-UB

ngày 06/7/2018 của Ủy ban nhân dân phường B với thời gian 03 tháng (kể từ ngày

06/7/2018 đến ngày 06/10/2018). Trong thời gian bị áp dụng biện pháp giáo dục tại

phường vào ngày 23/9/2018, C1 tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy đến ngày

24/9/2018 bị công an phường B mời thử test kết quả dương tính với chất ma túy và

lập biên bản vi phạm. Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B ban hành

Quyết định số 295/QĐ-UB chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường.

Vì vậy, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ ban

hành Văn bản số 146/LĐTBXH ngày 20/11/2018 đề nghị Tòa án đưa C1 vào Cơ

sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi

phạm hành chính năm 2012.

Đề nghị Toà án nhân dân thành phố Đ chấp nhận đề nghị của Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C1.

XÉT THẤY:

Về tố tụng:

Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ

đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm Hnh chính năm 2012.

Về nội dung:

Tại phiên họp, người bị đề nghị thừa nhận, vào ngày 25/6/2018, C1 có sử

dụng ma túy. Đến ngày 26/6/2018 Công an phường B đưa C1 đi xét nghiệm, kết quả

dương tính với chất ma túy và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

C1 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B áp dụng biện pháp giáo dục tại phường.

Đến ngày 23/9/2018, C1 tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy đến ngày 24/9/2018

bị Công an phường B đưa đi xét nghiệm với kết quả dương tính và lập biên bản vi

phạm.

Lời khai nhận của C1 tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm

của cơ quan chuyên môn, lời khai của C1 tại các bản tường trình ngày 26/6/2018

và ngày 24/9/2018, biên bản ghi lời khai, biên bản vi phạm hành chính do Công

an phường B lập và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.

Xét Nguyễn Văn C1 đã thành niên, có hành vi sử dụng trái phép chất ma

túy đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường mà vẫn tiếp tục vi phạm. Vì

vậy, việc Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ đề nghị

đưa C1 vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96

Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ, C1 có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm

nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Cho nên, cần

xét giảm nhẹ cho C1 khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành

chính.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104,

Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Nguyễn Văn C1 (Út C1), sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ 13, khóm C, phường B, thành phố Đ, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: tổ 13, khóm C, phường B, thành phố Đ, tỉnh An Giang.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ

ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 03 tháng 10 năm 2018).

3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành

phố Đ và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn khiếu nại của Nguyễn Văn C1 (Út C1) là 03 ngày làm việc kể từ

ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và xã hội

thành phố Đ phối hợp với Công an thành phố Đ đưa Nguyễn Văn C1 (Út C1) vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

Cỡ chữ