- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt -Công ty Cổ phần xây dựng và đầu tư Vinacona"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 154 /2018/QĐ-PT | Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ
XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
--------------------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng Các Thẩm phán
: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
: Ông Lê Thanh Bình
Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2018/KDTM-ST ngày 02/4/2018 của Toà án nhân dân quận HK bị kháng cáo như sau:
Ngày 12/4/2018, bị đơn là Công ty cổ phần VN do bà Ngô Thị Bích L đại diện theo pháp luật kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm: Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2018/KDTM-ST ngày 02/4/2018 của Tòa án nhân dân quận HK; Buộc cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án theo hướng: tính lại mức lãi suất trong hạn và quá hạn theo đúng quy định của pháp luật; Buộc Ngân hàng TMCP ĐT bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng tín dụng trái quy định.
XÉT THẤY:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa: Ông Ngô Tiến N, bà Nguyễn Thị H, anh Ngô Thái H, cháu Ngô Thảo L (Cháu Ngô Thảo L do ông Ngô Tiến N và bà Nguyễn Thị H đại diện theo pháp luật), bà Ngô Thị Bích L, chị Nguyễn Thanh H, chị Nguyễn Thanh D vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện những người này chỉ có tên trong sổ hộ khẩu tại số 39 TK, phường TH, quận CG , Hà Nội, nhưng không ở đây. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị X cũng xác nhận khoảng năm 1998-1999 vợ chồng bà xây diện tích nhà 06 tầng tại 39 TK, sau khi xây nhà xong thì vợ chồng bà chỉ ở mấy tháng rồi cho thuê và không ở đó nữa. Việc xây dựng nhà 39 TK chị L đóng góp công sức và năm 2015 khi bà sửa nhà thì các cháu bà có cho bà một ít, nhưng các đương sự không xuất trình được tài liệu gì để chứng minh. Do vây, việc Tòa án cấp sơ thẩm đưa những người có tên trên vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không cần thiết. Nên Tòa án cấp phúc thẩm không đưa những người này vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn đưa Chị Trần Thị H, chị Trần Thị N, chị Hà Thị T, chị Trần Thị Hải U là những người thuê nhà của bà X vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành điều tra xác minh tại chính quyền địa phương, chính quyền địa phương cho biết: Hiện tại nhà 39 TK, phường TH, quận CG, Hà Nội chỉ có những người sau đang thuê nhà: Chị Trần Thị L; Cơ sở kinh doanh LPB ( hoạt động kinh doanh từ 29/3/2018); Ông Nguyễn Tuấn A hiện đang làm thủ tục thuê nhà. Ngoài ra không có ai khác. Do vậy, chị Trần Thị H; chị Trần Thị N; chị Hà Thị T; chị Trần Thị Hải U không còn là đương sự trong vụ án, nên Tòa án cấp phúc thẩm không đưa chị H, chị N, chị T, chị U vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 432/2018/QĐ-PT ngày 08/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 478/2018/QĐ-PT ngày 30/10/2018 cho các đương sự, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn là Công ty cổ phần VN do bà Ngô Thị Bích L đại diện theo pháp luật (người kháng cáo), Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: Bà Nguyễn Thị X , chị Trần Thị L đều vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là ông Nguyễn Duy T – luật sư Công ty luật hợp danh PĐ, đoàn luật sư thành phố Hà Nội vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do đi công tác nước ngoài.
- Căn cứ: Điểm a, đ khoản 2 điều 227; Khoản 4 Điều 289; Khoản 3 Điều 296 và khoản 2 Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
QuyÕt ®Þnh:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 86/2018/TLPT-KDTM ngày 16/8/2018 về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP ĐT Trụ sở: Số 53 HV, phường LTT, Quận HK, Hà Nội Đại diện theo ủy quyền: 1. Ông Nguyễn Quốc H – Phó Giám đốc Chi nhánh TH 2. Ông Trịnh Tuấn H – Trưởng phòng KHDN2, Chi nhánh TH 3. Ông Nguyễn Văn L – Phó trưởng phòng KHDN2, Chi nhánh TH 4. Ông Nguyễn Duy Đ – Chuyên viên Phòng KHDN2, Chi nhánh TH.
Bị đơn: Công ty Cổ phần VN Trụ sở: Số 12, ngách 71/25 phố PM, phường PM, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị Bích L – Tổng giám đốc. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Duy T – Luật sư Công ty Luật hợp danh PĐ , đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị X – Sinh năm 1940 HKTT: Phòng 116B5 tập thể TC, phường TC, quận BĐ thành phố Hà Nội.
-Chị Trần Thị L – Sinh năm 1990 HKTT: PP, LN, Hà Nam.
2.Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2018/KDTM-ST ngày 02/4/2018 của Toà án nhân dân quận HK, thành phố Hà Nội có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 19/11/2018.
3. Về án phí: Sung công quỹ Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng ( Hai triệu đồng) là tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà Công ty Cổ phần xây dựng và đầu tư Vinacona đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002218 ngày 18/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận HK, thành phố Hà Nội.
4. QuyÕt ®Þnh nµy cã hiệu lực thi hành ngay.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hà Nội; - Tòa án ND quận HK; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tuyết Băng |