- Tranh chấp gì? "VPHC"
- Tòa quyết gì? 1-/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Thành T.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 153/QĐ-TA | Thành phố Thủ Đức, ngày 25 tháng 3 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:
1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt
2. Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Thu Trang
Ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Cơ sở Thanh thiếu niên 2, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp giải quyết hồ sơ thụ lý số 152/2021/TLST-HC ngày 18/3/2021 về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 141/QĐ-TA ngày 22 tháng 3 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thành T; tên thường gọi: Tâm lét; Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 27/3/1993; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Trình độ văn hoá: 8/12.
Nguyên quán: Long An
Hộ khẩu thường trú: Khu vực A, thị trấn Hiệp H, huyện Đức H, tỉnh L.
Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Không
Tiền án, tiền sự: Theo hồ sơ thể hiện: Không.
Con ông: Nguyễn Văn T và con bà Ngô Thị Tuyết H.
(Ông Nguyễn Thành T có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lý Hồ Nhựt Hoàng - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Ngày 11/01/2021, Công an phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện ông Nguyễn Thành T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa ông Nguyễn Thành T đến Trạm y tế phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét nghiệm ma túy. Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy của Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 ngày 15/01/2021 xác định ông Nguyễn Thành T dương tính với chất ma túy.
Ngày 11/01/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 14/QĐ-UBND về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 09/3/2021, Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 21/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 16/3/2021, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức đã có văn bản số 235/LĐTB đề nghị Tòa án xem xeùt quyeát ñònh aùp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa ông Nguyễn Thành T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2.
Tại phiên họp:
Đại diện của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án xem xeùt quyeát ñònh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Thành T, vì ông Tâm đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân ông Tâm không có nơi cư trú ổn định. Thời gian đề nghị áp dụng 18-21 tháng.
Người bị đề nghị, ông Nguyễn Thành T thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma tuý và bị Công an phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức bắt, lập biên bản vi phạm hành chính. Ông Nguyễn Thành T xác định không có nơi ở ổn định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến thời điểm mở phiên họp đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo luật định.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, có cơ sở xác định:
Ông Nguyễn Thành T có hành vi vi phạm hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Công an phường H, thành phố T phát hiện vào ngày 11/01/2021. Căn cứ vào phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 kết luận ông Nguyễn Thành T nghiện Ma túy đá. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Thành T đã được cơ quan chức năng thực hiện theo đúng trình tự thủ tục được qui định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm Hành chính năm 2012 và khoản 2 Điều 3, Điều 4, khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ qui định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Tại phiên họp, người bị đề nghị ông Nguyễn Thành T thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/01/2021 Trung tâm y tế dự phòng thành phố Thủ Đức cụ thể Trạm y tế phường Hiệp Bình Phước kiểm tra mẫu nước tiểu xác định ông Nguyễn Thành T dương tính với chất ma túy, sau đó đến ngày 15/01/2021 Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 trả lời kết luận về việc xác định ông Nguyễn Thành T dương tính ma túy, do đó có cơ sở kết luận ông Nguyễn Thành T nghiện ma túy.
Về việc xác định nơi cư trú: Căn cứ vào kết quả Phiếu xác minh tình trạng cư trú của Công an thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì đương sự Nguyễn Thành T có hộ khẩu thường trú tại Khu vực A, thị trấn Hiệp H, huyện Đức H, tỉnh L nhưng không thực tế cư trú tại địa phương từ tháng 06/2020 đến nay. Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an phường Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An không thực tế cư trú tại địa phương. Như vậy xác định ông Nguyễn Thành T không có nơi cư trú nhất định trước khi đưa vào Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 là có cơ sở.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời thừa nhận của đương sự tại phiên họp có cơ sở kh ng định ông Nguyễn Thành T sử dụng trái phép chất ma tuý và không có nơi cư trú ổn định. Vì vậy, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Thành T là có cơ sở chấp nhận. Tại phiên họp ông Nguyễn Thành T cũng thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nghiện ma túy là một tệ nạn xã hội, không những trực tiếp ảnh hưởng đến sức kh e của bản thân, gây thiệt hại vật chất, tinh thần của người thân vì vậy cần cân nhắc xem xét khi quyết định thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Thành T, tạo điều kiện để ông Nguyễn Thành T được cai nghiện, chữa bệnh, học tập, tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 95, Điều 96, Điều 105, Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Căn cứ khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều 11; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;
Căn cứ Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;
Căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 2 Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH
1-/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Thành T.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức.
2-/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày 11/01/2021.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3-/ Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Ông Nguyễn Thành T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày công bố quyết định.
4-/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5-/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức; Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 và Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP. Thủ Đức; - Công an TP. Thủ Đức; - Phòng LĐ-TB và XH TP. Thủ Đức; - Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2; - Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trần Thị Ánh Nguyệt |