- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: Số 80, đường H, khóm C, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng đối với ông Lâm Phương A (tên gọi khác là Nh).
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 153/QĐ-TA | TP. S, ngày 07 tháng 07 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Vương Thị Lệ Hằng
2. Thư ký phiên họp: Ông Đặng Chí Thức
Ngày 07 tháng 07 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 118/QĐ-TA ngày 29 tháng 06 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Lâm Phương A (tên gọi khác là Nh), Giới tính: Nam
Sinh năm 1991
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 4/12
Nguyên quán: Thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 346/3/11, đường L, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Chỗ ở hiện nay: Số nhà 346/3/11, đường L, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Nghề nghiệp: Không
Tiền án: Không
Tiền sự: 01
Con ông Lâm Văn T, sinh năm 1953 và Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số nhà 346/3/11, đường L, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
(vắng mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng Khang, chức vụ: Chuyên viên phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Lê Ngọc, Kiểm sát viên.
3. Những người khác: Ông Tiết Thiện Nh – Đại diện Công an phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NHẬN THẤY:
Ông Lâm Phương A là đối tượng nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 03 (ba) tháng theo Quyết định số 154/QĐ-UBND ngày 13/03/2020 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 02/6/2020, Công an phường B, thành phố S phát hiện ông Lâm Phương A có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên Công A phường B cùng Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, Trạm y tế phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng kiểm tra chất ma túy đối với ông A, kết quả ông A dương tính với ma túy đá (Methamphetamine) và Cần sa. Công an phường B, thành phố S tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lâm Phương A.
Ý kiến của Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Ông Lâm Phương A là đối tượng nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định và ông A đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng ông A không sửa đổi mà vẫn còn nghiện. Từ những tình tiết trên, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố S xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng đối với ông A thời gian là 22 (hai mươi hai) tháng.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố S đã thực hiện về trình tự, thủ tục đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông A được tiến hành đúng trình tự, thẩm quyền và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố S xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông A là 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày ông A bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến của cơ quan đề nghị và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, thấy rằng:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở Cai nghiện bắt buộc đối với ông Lâm Phương A phù hợp với quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tại phiên họp ông Lâm Phương A vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, căn cứ vào khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt ông A và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
Xét thấy, tại biên bản vi phạm hành chính do Công an phường B, thành phố S lập ngày 02/6/2020, bản tường trình của ông Lâm Phương A có đủ cơ sở để xác định ông A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ vào biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 02/6/2020 của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng kết luận ông A nghiện ma túy đá (Methamphetamine) và Cần sa.
Ông Lâm Phương A là người trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định và đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 154/QĐ-UBND ngày 13/03/2020 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn, ông A lại tiếp tục vi phạm cụ thể là vào ngày 29/5/2020 ông A đã sử dụng ma túy (Tờ tường trình (bút lục số 19) và biên bản ghi lời khai ngày 02/6/2020 của ông A (bút lục số 03-04)) nên Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S đã ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với ông A (Quyết định số 387/QĐ-UBND ngày 08/06/2020) và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với ông A theo đúng quy định tại Điều 1 Nghị định 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Xét hành vi của ông A thì ông A thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính, biên bản ghi lời khai của ông A, ông A nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy và lần cuối sử dụng ma túy là vào ngày 29/05/2020. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính “Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật này”, do đó thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với ông A vẫn còn.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính:
Ông A bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2016. Ngày 29/6/2018, ông A bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 52/QĐ-TA của Tòa án nhân dân thành phố S và đến ngày 28/8/2019, ông A được xét miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại (Quyết định số 92/QĐ-TA của Tòa án nhân dân thành phố S). Ngày 13/3/2020 ông A bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 03 (ba) tháng. Tuy nhiên đang trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì ông A lại tiếp tục sử dụng ma túy nên Ủy ban nhân dân phường B, thành phố S đã ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với ông A và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính “Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính”, xét trường hợp trên thì ông A vẫn còn tiền sự và vi phạm lần này là tình tiết tăng nặng tái phạm được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Hành vi sử dụng ma túy của ông A không những gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm kinh tế của gia đình mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây khó khăn cho công tác phòng chống ma túy của Nhà nước. Mặt khác, trong quá trình Công an phường B, thành phố S mời ông A đến làm việc, mặc dù ông A đã tự nguyện khai báo, tuy nhiên khi Tòa án nhân dân thành phố S tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với ông A thì ông A vắng mặt không lý do, điều này thể hiện thái độ không thành thật hối lỗi của ông A do đó cần phải xử lý nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông A là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, Khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, khoản 2 Điều 19, Điều 22, Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: Số 80, đường H, khóm C, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng đối với ông Lâm Phương A (tên gọi khác là Nh).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày ông Lâm Phương A bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Ông Lâm Phương A có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố S, tỉnh Sóc Trăng chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố S; - Trưởng Công an thành phố S ; - Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố S; - Người bị áp dụng; - UBND phường B, TPST; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ ADBPXLHC. | THẨM PHÁN Vương Thị Lệ Hằng |