vanban.org

Quyết định 152/QĐST-HC — Hành chính

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 14/04/2025 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 62/2023/TLST-HC ngày 23/02/2023 về khởi kiện “ Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:

Người khởi kiện: Bà Xuân Thị L, sinh năm 1948 – Vắng mặt. Địa chỉ: Xóm ngã tư, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Xuân Thị Lan - UBND huyện Hoài Đức"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 62/2023/TLST-HC ngày 23/02/2023 về khởi kiện “ Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 152A /2025/QĐST-HCHà Nội, ngày 14 tháng 04 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Phú Hợp

2. Bà Lục Thanh Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Anh - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Thắng - Kiểm sát viên.

Căn cứ: Khoản 5 Điều 38, Điều 3, Điều 116, điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144, Điều 157, khoản 2 Điều 206 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 62/2023/TLST-HC ngày 23/02/2023.

NHẬN THẤY:

Ngày 10/01/2022, bà Xuân Thị L làm đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội( đơn khởi kiện có đóng dấu ngày gửi bưu điện là ngày 11/01/2022) đối với Văn bản số 2086/UBND-BTCD ngày 5/8/2021 của UBND huyện Hoài Đức về việc trả lời công dân. Ngày 17/2/2025, bà Xuân Thị L khởi kiện đối với Quyết định số 122/QĐ-UBND ngày 01/10/1994 của UBND huyện Hoài Đức về giao sử dụng tạm thời đất cho bà Lê Thị D.

Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Năm 1991, UBND xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức đã quy hoạch đất dịch vụ sân vận động Sơn Đồng để giao cho nhân dân thuê làm kinh doanh dịch vụ, trong đó có bà Xuân Thị L. Diện tích cho thuê làm dịch vụ là 24 m2( dài 8 m x rộng 3 m). Bà L đã đóng 1.100.000 đồng theo phiếu thu ngày 17/12/1991.

Ngày 18/6/1994, bà Lê Thị D( em dâu bà L) có bản khai sử dụng đất khu sân vận động Sơn Đồng, trong đó thể hiện hộ bà D có 5 khẩu, diện tích sử dụng là 65 m2, diện tích nhà cấp 4 là 32 m2; thời điểm sử dụng đất năm 1990 và không có nơi ở nào khác.

Ngày 05/7/1994, UBND huyện có Thông báo số 47/TB-UB về việc thống nhất cách xử lý đối với các hộ sử dụng đất do Tổ kiểm tra đất đai báo cáo.

Ngày 12/7/1994, Tổ kiểm tra nhà đất huyện Hoài Đức có Biên bản giải quyết về việc thu lệ phí giao đất đối với bà Lê Thị D, trong đó có nội dung: Tổng diện tích đang sử dụng là 37 m2, diện tích xã cho thuê từ năm 1991 là 24 m2 không thu tiền, diện tích phải thu tiền là 13 m2, số tiền phải nộp là 910.000 đồng.

Ngày 01/10/1994, bà Dung đã nộp 980.000 đồng( do tăng thêm 1m2).

Ngày 1/10/1994, UBND huyện Hoài Đức ban hành Quyết định số 122/QĐ-UBND về giao sử dụng tạm thời đã xây dựng cho các hộ kinh doanh dịch vụ khu vực Sân vận động Ngã Tư Sơn Đồng cho bà Lê Thị D( em dâu bà L) được sử dụng tạm thời 38 m2 đất tại ô số 9 tại Sân vận động Sơn Đồng( rộng mặt đường 3,8 m x dài 10 m) để xây dựng nhà ở kinh doanh dịch vụ. Bà D phải nộp lệ phí đất đai, nộp phạt xử lý hành chính( nếu không có giấy phép theo thông báo số 47) Số tiền thu được nộp vào Ngân sách huyện Hoài Đức.

Theo bà L trình bày thì từ năm 1991 đến năm 2015 bà L đã sử dụng diện tích đất này và cho thuê. Năm 2015, bà Dung làm nhà mới cho nên bà phải về nhà của bố mẹ trong xóm Hàn ở.

Năm 2016, sau khi xây nhà xong bà D không cho bà đến ở nữa, nên không có nguồn thu nhập nào.

Năm 17/4/ 2017 bà Xuân Thị L đã làm đơn khiếu nại đến UBND huyện Hoài Đức đề nghị xem xét lại Quyết định số 122/QĐ-UBND ngày 1/10/1994 của UBND huyện Hoài Đức giao đất tạm thời giao cho bà D là không đúng đối tượng. Bà Xuân Thị L mới là người được giao đất và đóng tiền sử dụng ô đất dịch vụ từ năm 1991….

Ngày 19/4/2017 và ngày 26/5/2017 tại thôn và xã đã tiến hành hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà L với bà D ông D nhưng không thành.

Ngày 5/1/2018, tại UBND huyện Hoài Đức bà Lan thống nhất nội dung khiếu nại quyết định số 122/QĐ-UBND.

Ngày 31/5/2018, Phòng tài nguyên và Môi trường huyện Hoài Đức có Báo cáo số 45/BC-TNMT về việc xác minh đơn của bà Xuân Thị L.

Ngày 19/6/2018, Chủ tịch UBND huyện Hoài Đức ban hành Quyết định số 4446/QĐ-TNMT về việc trả lời đơn của bà Xuân Thị L. Theo đó có nội dung:

Theo hồ sơ tài liệu kèm theo Quyết định số 122/QĐ-UBND ngày 01/10/1994 của UBND huyện Hoài Đức thì diện tích 38 m2 đất giao tạm sử dụng, thời hạn 10 năm cho bà Lê Thị D có nguồn gốc là đất UBND xã Sơn Đồng cho hộ bà Xuân Thị L thuê, diện tích 24 m2 và năm 1994, UBND huyện hợp thức sau quy hoạch Sân vận động Sơn Đồng là 14 m2. Tuy nhiên đến nay, thửa đất trên đã quá thời hạn sử dụng đất mà không được gia hạn sử dụng đất là thuộc đối tượng phải thu hồi đất theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 65 Luật đất đai năm 2013…”.

Ngày 20/6/2018, UBND huyện Hoài Đức đã giao Quyết định 4446/QĐ-UBND cho bà Xuân Thị L, bà L đã ký nhận.

Ngày 14/8/2018 bà Xuân Thị L có đơn khởi kiện vụ án dân sự đến tòa án nhân dân huyện Hoài Đức buộc bà D ông D phải trả lại 38 m2 đất cho bà Xuân Thị L.

Ngày 03/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức đã thụ lý vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Xuân Thị L với bị đơn là bà Lê Thị D và ông Nguyễn Xuân D. Quá trình tố tụng tại tòa án, bà L vẫn thắc mắc vì sao UBND huyện lại ban hành Quyết định số 122/QĐ-UBND ngày 1/10/1994 về việc giao đất cho bà Lê Thị D,

Tại phiên tòa xét xử vụ án dân sự ngày 11/2/2020, bà Xuân Thị L đã rút toàn bộ đơn khởi kiện và Tòa án huyện Hoài Đức đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 07/2020/QĐST-DSST.

Tại phiên tòa: Người đại diện ủy quyền của bà L vẫn giữ yêu cầu khởi kiện đối với Văn bản số 2086/UBND-BTCD và Quyết định số 122/QĐ-UBND ngày 01/10/1994.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán; Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Sau khi trình bày tóm tắt nội dung vụ án đã đề nghị HĐXX đình chỉ giải quyết vụ án vì hết thời hiệu khởi kiện, Vản bản số 2086/UBND-BTCD không phải là Quyết định hành chính bị kiện.

XÉT THẤY :

Ngày 20/6/2018 là ngày bà L nhận được Quyết định 4446/QĐ-UBND, nhưng sau đó bà L không khởi kiện vụ án hành chính đến tòa án mà bà lựa chọn để khởi kiện vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất với bà D ông D liên quan đến việc UBND huyện Hoài Đức ban hành Quyết định 122/QĐ-UBND ngày 1/10/1994 về việc giao đất tạm thời cho bà D.

Sau khi tòa án huyện Hoài Đức đình chỉ vụ án dân sự thì bà Lan lại tiếp tục làm đơn khiếu nại đề huyện xem xét lại Quyết định 122/QĐ-UBND ngày 1/10/1994.

Ngày 05/8/2021, Chánh văn phòng UBND huyện đã có văn bản số 2086/UBND-BTCD trả lời bà L, theo đó có nội dung:

“ Việc bà Xuân Thị L có đơn đề nghị huyện xem xem xét lại Quyết định 122/QĐ-UBND ngày 1/10/1994 của UBND huyện đã được UBND huyện trả lời tại văn bản 4446/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 đến nay UBND huyện không có ý kiến gì khác”.

Xét thấy Văn bản số 2086/UBND-BTCD ngày 5/8/2021 của UBND huyện Hoài Đức không phải là quyết định hành chính bị kiện theo quy định tại Điều 3 luật tố tụng hành chính và không có nội dung gì mới so với QĐ số 4446/QĐ-UBND đã được trả lời bà L.

Điều 116.Thời hiệu khởi kiện:

2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính......

Như vậy ngày 10/01/2022, bà Xuân Thị L làm đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội( đơn khởi kiện có đóng dấu ngày gửi bưu điện là ngày 11/01/2022) đối với Văn bản số 2086/UBND-BTCD ngày 5/8/2021 của UBND huyện Hoài Đức về việc trả lời công dân và sau đó ngày 17/4/2025 bà L khởi kiện đối với Quyết định số 122/QĐ-UBND ngày 01/10/1994 được xác định là hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 116 luật tố tụng hành chính.

Không có việc trở ngại khách quan vì bà Lan vẫn đi khởi kiện vụ án dân sự được.

Do vậy HĐXX đình chỉ giải quyết vụ án vì hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 62/2023/TLST-HC ngày 23/02/2023 về khởi kiện “ Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:

Người khởi kiện: Bà Xuân Thị L, sinh năm 1948 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm ngã tư, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Trung Ch, sinh năm 1986- Có mặt.

Địa chỉ: 38 ngõ 16 Hoàng cầu, phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.

Người bị kiện: UBND huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn A, chức vụ: Phó chủ tịch UBND huyện Hoài Đức- Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- UBND xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Viết Hùng, chức vụ: Chủ tịch UBND xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội - Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Xuân D, sinh năm 1958 - Có mặt.

- Bà Lê Thị D, sinh năm 1963 - Có mặt.

Địa chỉ: Số nhà 512, đường 222, ngã tư Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Trần Thị Thu Ph, ông Nguyễn Đức Tr- Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH MTV METARA- Đoàn luật sư thành phố Hà Nội- Có mặt.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường bị đình chỉ theo quy định tại các điểm b, c và e khoản Điều 123; điểm b và điểm đ khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng Hành chính và trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Luật người cao tuổi. Bà Xuân Thị L là người cao tuổi nên được miễn án phí.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07( bảy) ngày kể từ ngày nhận được quyết định này. Nơi nhận:

THẨM PHÁN

- Các đương sự;

- VKSND TPHN;

- Thi hành án TPHN;

- Lưu HS vụ án.

Mai Vân Anh

Cỡ chữ