- Tranh chấp gì? "Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thành T.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 152/QĐ-TA | Sóc Trăng, ngày 14 tháng 6 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Trúc Phương.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Thuận.
Ngày 14 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 145/QĐ-TA ngày 07 tháng 6 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Trịnh Thành T. Tên gọi khác: không có. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 06/11/1989.
Chứng minh nhân dân: 365760969, ngày cấp: ............, nơi cấp:..................
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 6/12.
Nơi đăng ký thường trú: Thị trấn MX, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng.
Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: làm thuê.
Tiền án: không; tiền sự: không.
Con ông Trịnh Văn M và bà Võ Thị N.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng Kh, Chuyên viên phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy ủy quyền ngày 14/5/2021) (có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Lê Ngọc, Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình của Trịnh Thành T và các tài liệu trong hồ sơ thể hiện:
Vào ngày 05/5/2021 Trịnh Thành T bị Công an Phường B2, thành phố ST mời làm việc và tiến hành test nhanh ma túy (thu mẫu nước tiểu) kết quả Trịnh Thành T dương tính với ma túy (loại Methamphetamine- ma túy đá), nên Công an Phường B2 lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T. Qua làm việc, Trịnh Thành T khai đã sử dụng ma túy bắt đầu từ năm 2017 cho đến nay, lần sử dụng gần nhất là ngày 05/5/2021, ma túy sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút.
Trên cơ sở đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy của Công an Phường B2, ngày 05/5/2021 Trạm Y tế Phường B2 có văn bản trả lời đối với trường hợp của Trịnh Thành T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine.
Theo kết quả tra cứu tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật thuộc Sở y tế Sóc Trăng tại Công văn số 321/KSBT-AIDS ngày 10/5/2021 thì Trịnh Thành T không có tham gia chương trình điều trị tại Cơ sở điều trị Methadone thuộc Khoa phòng, chống HIV/AIDS Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Sóc Trăng.
Xác minh về nơi cư trú của Trịnh Thành T thì thấy:
Trong quá trình lập hồ sơ Trịnh Thành T khai Tài sinh sống tại ấp VX cùng với cha và anh của T, khi sống tại đây, T ngủ tại Chồi lá phía sau nhà, T thường ra Sóc Trăng chơi game, chơi xong T về nhà tại ấp VX và ngủ tại Chồi lá, có cha T là ông M biết. Tuy nhiên, Tại phiên họp Tài thừa nhận T không có cư trú ổn định tại nhà ông M.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/5/2021 (bút lục 23,24) tại Công an Phường B2 ông Trịnh Văn M là cha ruột T trình bày: T có đăng ký thường trú tại ấp VX, thị trấn MX, huyện MX, từ năm 14 tuổi T lên Sài Gòn sống cùng với mẹ, đến tháng 6/2020 T về nhà sống cùng ông M tại ấp VX đến tháng 10/2020 T bỏ đi đến nay, làm gì, ở đâu ông M không biết. Thời gian T chung sống với ông M, T ngủ tại Chồi lá cách nhà khoảng 50 mét. Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/5/2021 (bút lục 27,28) tại Công an Phường B2 ông Trịnh Văn T1 là anh ruột T trình bày: Thời gian T về sinh sống cùng ông M và ông T1 tại ấp VX, T ngủ tại Chồi lá, đến tháng 10/2020 T bỏ đi đến nay không có về nhà, hiện nay chồi lá này ông T1 và ông M thay nhau ngủ để canh cá.
Tại Phiếu trả lời kết quả xác minh của Công an thị trấn MX về tình trạng cư trú của Trịnh Thành T (bút lục 22) thì Trịnh Thành T có đăng ký thường trú tại ấp VX, thị trấn MX nhưng không có mặt tại địa phương.
Tại Đề nghị số 28/ĐN-UBND ngày 10/5/2021 của Ủy ban nhân dân Phường B2, thành phố ST và Công văn số 267/CV-PLĐ ngày 31/5/2021 của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố ST đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thành T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng.
* Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố ST ông Đặng Hoàng Kh trình bày:
Trịnh Thành T là người đủ 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định, nghiện ma túy, do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 1 của Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thành T là 18 tháng.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết: đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị, xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thành T thời hạn 18 tháng.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và ý kiến của Kiểm sát viên:
Xét hồ sơ đề nghị đã được Công an Phường B2, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng lập còn thời hiệu, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 4, Điều 8, Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Phòng Tư pháp thành phố Sóc Trăng có văn bản kiểm tra tính pháp lý hồ sơ và Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thành T là đúng trình tự thủ tục quy định tại các Điều 12, Điều 13 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Căn cứ vào bản tường trình của Trịnh Thành T ngày 5/5/2021 và lời thừa nhận tại phiên họp; kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trịnh Thành T cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để kết luận Trịnh Thành T là người nghiện ma túy; Trịnh Thành T là người đủ 18 tuổi nhưng không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, đề nghị của Ủy ban nhân dân Phường B2 và Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố ST đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thành T là phù hợp với quy định pháp luật được Tòa án chấp nhận.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính: Trịnh Thành T không có tình tiết tăng nặng.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính: trong quá trình lập hồ sơ Trịnh Thành T tự nguyện và thành thật khai báo hành vi sử dụng ma túy nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Tại phiên họp, T khai sử dụng ma túy từ năm 2017 nhưng sau đỏ đã bỏ, đến đầu năm 2021 mới bắt đầu sử dụng lại ma túy, loại ma túy đá, do vậy, xét về tình trạng nghiện ma túy, cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính, nhân thân của T thì cần đưa Tài điều trị tại Cơ sở cai nghiện ma túy với thời hạn 18 tháng là phù hợp.
Đề nghị của đại diện Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội thành phố ST và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật nên được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96, Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 22, 23, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Thành T.
2. Thời hạn Trịnh Thành T chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 05/5/2021.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền khiến nghị, Viện kiểm sát nhân có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn là 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng phối hợp với Công an thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đưa Trịnh Thành T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: số 80, đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường 5, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Sóc Trăng; - Phòng Lao động TB &XH thành phố ST; - Người bị áp dụng; - Công an TP. Sóc Trăng; - Công an Phường B2, thành phố Sóc Trăng; - UBND Phường B2, thành phố Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng; - Lưu Tòa án thành phố Sóc Trăng; Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Trúc Phương |