vanban.org

Quyết định 152/2020/QĐ-TA

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 15/09/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn A.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày Trần Tuấn A bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 21/7/2020. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Xã Tân Ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn A"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn A.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 152/2020/QĐ-TABuôn Ma Thuột, ngày 15 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt

2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Bích Dịu - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 154/2020/QĐ-MPH ngày 09 tháng 9 năm 2020, đối với:

Họ và tên: Trần Tuấn A; Tên gọi khác: TPU; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1986; tại Nam Định, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 10/12;

Nơi đăng ký HKTT: 195 đường Q, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định; con ông Trần Đức V, và bà Hoàng Thị Kim T.

Nhân thân;

-Ngày 04/9/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 200/HSST ).

- Ngày 21/12/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử 03 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 384/HSST ).

- Ngày 30/3/2017 bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng theo quyết định số 10/2019/QĐ-TA của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy .

-Ngày 17/5/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử 09 tháng tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Bản án số 117/HSST ).

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Tiến C – Chức vụ: Phó trưởng phòng, Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Qua công tác quản lý địa bàn Công an phường T, thành phố B phát hiện Trần Tuấn A là người có biểu hiện nghi sử dụng trái phép chất ma túy nên đã đưa về làm việc, quá trình làm việc Trần Tuấn A khai nhận bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2007, đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không cai nghiện được mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, Công an phường T đã phối hợp với Bệnh viện đa khoa thành phố Buôn Ma Thuột xét nghiệm chất ma túy đối với Trần Tuấn A. Kết quả xét nghiệm xác định Trần Tuấn A dương tính với MOP ( Morphin/Heroin) .

Qua kết quả xác minh xác định Trần Tuấn A có hộ khẩu thường trú tại 195 đường Q, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định, nhưng hiện nay sống lang thang, không có nơi ở nhất định. Do đó, Chủ tịch UBND phường T đã ban hành Quyết định số 297/QĐ-UBND, ngày 21/7/2020, giao Trần Tuấn A cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp đại diện phòng lao động thương binh xã hội thành phố Buôn Ma Thuột trình bày: Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn A do Công an phường T, thành phố B lập đã thể hiện: Trần Anh Tuấn đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2007 đến nay, đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện nhưng không tự cai nghiện được và lần sử dụng gần đây nhất là ngày 20/7/2020. Do vậy đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn A với thời gian 24 tháng.

Ý kiến c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột:

Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn A, thời gian 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng lao động, thương binh xã hội thành phố B, và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, đã có đủ căn cứ để xác định:

Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn A đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Bản thân Trần Tuấn A là người có đủ khả năng nhận thức, Tuấn A biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm nguy hại cho sức khỏe con người, đồng thời cũng là nguyên nhân lây truyền các căn bệnh nguy hiểm và làm phát sinh một số tội phạm khác, mặt khác Tuấn A là người có nhân thân xấu, đã bị các cơ quan chức năng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Nhưng, Tuấn A không tự cai nghiện được mà vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên quá trình lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Trần Tuấn A đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên để tạo điều kiện cho Trần Tuấn A chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề, cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn A.

Căn cứ vào các Điều 6, Khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; Điều 19, Điều 20 và Điều 22 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Tuấn A.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày Trần Tuấn A bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 21/7/2020. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Xã Tân Tiến, huyện K, tỉnh Đắk Lắk).

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động, thương binh và xã hội thành phố B.

Cỡ chữ