vanban.org

Quyết định 151/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” của bà Phan Thị N:

Tuyên bố: bà Nguyễn Thị Xuân T, số Chứng minh nhân dân: xxxxxxxxxxxx, giới tính : Nữ, sinh ngày 01/9/1980, địa chỉ: Địa chỉ: 3/25 Tổ 1, Khu phố 2, Thị trấn HM, huyện HM, Thành phố H mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” của bà Phan Thị N:
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 151/2022/QĐST - DSHóc Môn, ngày 05 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bùi Thị Thanh Phượng

- Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Phượng Nghĩa –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Quang Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 262/DSST ngày 22/12/2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 57/2022/QĐST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị N, sinh năm 1945 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: 3/25 Tổ 1, Khu phố 2, Thị trấn HM, huyện HM, Thành phố H.

- Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: 3/25 Tổ 1, Khu phố 2, Thị trấn HM, huyện HM, Thành phố H.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 22 tháng 11 năm 2021 và Bản tự khai ngày 08 tháng 03 năm 2022, bà Phan Nhị N trình bày:

Bà Phan Thị N, sinh năm 1945 và chồng là ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1940, mất năm 2017 có 06 (sáu) người con chung, trong đó có bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1980 từ khi sinh ra đã mất năng lực hành vi dân sự theo xác nhận của Ủy ban nhân dân Thị trấn Hóc Môn, Huyện Hóc Môn: Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1980; Địa chỉ: 3/25 Tổ 1, Khu phố 2, Thị trấn HM, huyện HM, Thành phố H là người khuyết tật: trí tuệ; mức độ: nặng, hiện đang hưởng trợ cấp Bảo trợ xã hội hàng tháng 570.000 đồng theo Điểm c, Khoản 1, Điều 16 Nghị định 28/NĐ-CP. Để bổ túc hồ sơ di chúc, thừa kế, nay bà N yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Xuân T mất năng lực hành vi dân sự theo Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 22 Bộ Luật dân sự.

Ngày 13 tháng 01 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định trưng cầu giám định số 03/2022/QĐ-TA.

Ngày 24 tháng 01 năm 2022, Trung tâm pháp y tâm thần Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 203/KLGĐ.

* Tại phiên họp đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý và phiên họp. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị N tuyên bố bà Nguyễn Thị Xuân T mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng:

Phan Thị N yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Xuân T mất năng lực hành vi dân sự. Người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự là bà Nguyễn Thị Xuân T hiện đang cư trú tại Địa chỉ: 3/25 Tổ 1, Khu phố 2, Thị trấn HM, huyện HM, Thành phố H. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 27, Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu của bà N là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên họp, bà Phan Thị N có đơn xin vắng mặt, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, phiên họp vẫn tiến hành theo quy định của pháp luật

[2] Về nội dung yêu cầu:

Căn cứ lời khai của bà Phan Thị N là người yêu cầu và xác nhận của Ủy ban nhân dân Thị trấn Hóc Môn, Huyện Hóc Môn: Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Địa chỉ: 3/25 Tổ 1, Khu phố 2, Thị trấn HM, huyện HM, Thành phố H là người khuyết tật: trí tuệ; mức độ: nặng. Hiện tại, bà T không thể tự mình thực hiện các công việc cá nhân cần thiết hoặc tham gia các giao dịch dân sự.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 203/KLGĐ ngày 24/01/2022, Trung tâm Pháp y Tâm thần Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh xác định: “Về y học: Đương sự: Chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72-ICD10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Tại Khoản 1 Điều 22 Bộ Luật dân sự quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.

Từ những cơ sở và nhận định trên, xét yêu cầu của bà Phan Thị N tuyên bố bà Nguyễn Thị Xuân T mất năng lực hành vi dân sự là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 376 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 1 Điều 22 của Bộ Luật dân sự nên được chấp nhận.

[3] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị N tuyên bố bà Nguyễn Thị Xuân T mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ.

[4] Về lệ phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phan Thị N , sinh năm 1945 thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn lệ phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 27, Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367, Điều 369, Điều 376, Điều 372 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” của bà Phan Thị N:

Tuyên bố: bà Nguyễn Thị Xuân T, số Chứng minh nhân dân: xxxxxxxxxxxx, giới tính : Nữ, sinh ngày 01/9/1980, địa chỉ: Địa chỉ: 3/25 Tổ 1, Khu phố 2, Thị trấn HM, huyện HM, Thành phố H mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Bà Phan Thị N được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ