- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Trương Thị Thùy T - Đỗ Điền M"
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
N NH N N
N H
H
H N H V T N M H N CHÂU THÀNH
Đ c p - T do - H nh phúc
TỈNH B N T E Số: 151/2022/QĐCNTTLH
Châu Thành, ngày 06 tháng 9 năm 2022
Q ẾT ĐỊNH
ÔN NHẬN TH ẬN TÌNH L HÔN
VÀ SỰ THỎ TH ẬN
BÊN THAM GIA H
Ả TẠ T
N
Căn cứ các Điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của chị Trương Thị Thùy T và anh Đỗ Điền M.
Sau khi nghiên cứu:
- Đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 8 năm 2022, về việc xin ly hôn của chị Trương Thị Thùy T.
- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 8 năm 2022 về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:
- Người khởi kiện: Trương Thị Thùy T, sinh năm 1996.
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Người bị kiện: Đỗ Điền M, sinh năm 1992.
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH
T
N:
Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 8 năm 2022 có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Q ẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 8 năm 2022, cụ thể như sau:
- Về hôn nhân: Chị Trương Thị Thùy T và anh Đỗ Điền M thuận tình ly hôn. Ghi nhận chị T và anh M không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau khi ly hôn.
- Về con chung: Chị T và anh M có 01 con chung là Đỗ Thùy T, sinh ngày 09/11/2013. Sau ly hôn, chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu T cho đến khi tròn 18 tuổi. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh M khai không có, không yêu cầu giải quyết nên ghi nhận.
- Về các vấn đề khác: Chị T và anh M đều khai không có nên không yêu cầu giải quyết.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bên tham gia hòa giải; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu. | THẨM PH N Lê Thị Thúy Hằng |