- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận thuận tình ly hôn Nguyễn Thị Thanh Hoa - Bùi Văn Mỹ"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 150 /2022/QĐST - HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 12 tháng 12 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Khắc Hoàng
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 221/2022/TLST
- HNGĐ ngày 07/11/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 146/2022/QĐ-TA ngày 28/11/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau:
- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
1. Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1989; HKTT: Thôn T, xã X, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
2. Anh Bùi Văn M, sinh năm 1988; HKTT: Xóm 12, M, xã H, huyện N, tỉnh B. Hiện đang lao động tự do tại Đài Loan (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
- Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của chị Nguyễn Thị Thanh H và đơn yêu cầu công nhận thuận thuận tình ly hôn, bản tự khai của anh Bùi Văn M trình bày thống nhất như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M đăng ký kết hôn hợp pháp, tự nguyện không bị ai ép buộc vào ngày 21/9/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng vì điều kiện kinh tế khó khăn, năm 2020, anh M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, kể từ khi anh M đi chị H cùng các con chuyển về quê ngoại sinh sống. Vợ chồng sống cách xa nhau nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất hòa, sống thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau nên tình cảm phai nhạt, mỗi người đều có cuộc sống, suy nghĩ và lối sống riêng. Hiện tại, anh M đang sinh sống lao động tự do tại Đài Loan và chưa có ý định về Việt Nam, chị H đang sinh sống tại Việt Nam, giữa chị H và anh M đều nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên thống nhất thuận tình ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.
Về con chung: Quá trình hôn nhân chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M có hai con chung là Bùi Nguyễn Gia Q, sinh ngày 03/4/2017 và Bùi Nguyễn Gia N, sinh ngày 22/9/2020, hiện tại hai cháu đang sống với chị Nguyễn Thị Thanh H. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M thống nhất thỏa thuận giao hai con chung Bùi Nguyễn Gia Q và Bùi Nguyễn Gia N cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh M có quyền đi lại thăm nom chăm sóc các con chung không ai được ngăn cấm, cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Bùi Văn M có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và uỷ quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Nguyễn Thị Thanh H; (vợ); CMTND số xxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh để giải quyết việc ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Anh Bùi Văn M hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Theo thông tin cung cấp của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ công an số 20157/QLXNC-P5 ngày 28/9/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh thì anh Bùi Văn M đã xuất, nhập cảnh 01 lần duy nhất vào ngày 11/11/2020 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, các Điều 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Anh Bùi Văn M cũng có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Nguyễn Thị Thanh H để giải quyết việc ly hôn. Tài liệu văn bản anh Bùi Văn M gửi về Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh từ Đài Loan đã được trưng cầu giám định và kết luận tính chính xác theo kết luận giám định số 999/PC 09 – NTT ngày 15/11/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Bùi Văn M theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 21/9/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Bình Định. Căn cứ quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M hạnh phúc được thời gian đầu, đến cuối năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng về suy nghĩ và lối sống, thiếu sự chia sẽ, quan tâm, yêu thương dành cho nhau. Anh Bùi Văn M hiện đang lao động tự do tại Đài Loan và chưa có ý định về Việt Nam. Chị H và anh M đều tự nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này nên đều làm đơn đề nghị Tòa án ghi nhận tự nguyện ly hôn.
Xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân của chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M không đạt được mục đích đó.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M có hai con chung là Bùi Nguyễn Gia Q, sinh ngày 03/4/2017 và Bùi Nguyễn Gia N, sinh ngày 22/9/2020, hiện tại hai cháu đang sống với chị Nguyễn Thị Thanh H. Được mẹ quan tâm và chăm sóc tốt, các cháu đều phát triển đầy đủ cả về thể chất và tinh thần. Anh M hiện đang sinh sống tại Đài Loan chưa biết thời gian nào mới về lại Việt Nam. Chị H và anh M đã thống nhất giao hai con chung cho chị Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh M có quyền đi lại thăm nom chăm sóc các con chung không ai được ngăn cấm, cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, sự thỏa thuận này của các đương sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên cần căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Bùi Văn M.
2. Quan hệ con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của vợ chồng về việc: Giao hai con chung Bùi Nguyễn Gia Q, sinh ngày 03/4/2017 và Bùi Nguyễn Gia N, sinh ngày 22/9/2020 cho chị Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Bùi Văn M có quyền đi lại thăm nom chăm sóc các con chung không ai được ngăn cấm, cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị Thanh H (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000372 ngày 04/11/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND xã Hoài Phú; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Trần Khắc Hoàng |