- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xác định bà Lữ Thị M là mẹ của bà Huỳnh Thị Phương T, sinh ngày 26/03/1994 (Giới tính nữ), căn cước công dân số 079194034416, do Cục cảnh sá…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình của bà Lữ Thị M.
- Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂNQUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số : 150/2024/QĐST-HNGĐ | Tân Phú, ngày 21 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Xác nhận cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hương
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Tường Vi- Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trần Mai Hảo - Kiểm sát viên Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số 1081/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “ Yêu cầu xác định mẹ cho con” theo Quyết định mở phiên họp số 170/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu:
Người yêu cầu: Bà Lữ Thị M – sinh năm 1962
Địa chỉ : tổ A khu phố D, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Huỳnh Thị Phương T, sinh năm 1994
Địa chỉ: Số B Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Hứa Thị Kim H – sinh năm 1973
Địa chỉ: Số B Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Huỳnh Văn C – sinh năm 1962
Địa chỉ : ấp T, xã P, huyện C, Thành Phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ :
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 15/11/2023 và tại bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Lữ Thị M trình bày:
Năm 1990 bà và ông Huỳnh Văn C có chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 1994 bà sinh con tại bệnh viện H2. Thời điểm này bà với ông C không đăng ký kết hôn nên không làm khai sinh cho con có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh được. Do đó bà nhờ một người có quan hệ họ hàng với gia đình là bà Hứa Thị Kim H đứng tên trong giấy chứng sinh. Lúc này bà H có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H mang giấy chứng sinh đi làm khai sinh cho con là Huỳnh Thị Phương T. Ông C ra Ủy ban nhân dân phường nhận con nên trong giấy khai sinh ghi tên mẹ là bà Hứa Thị Kim H, tên cha là ông Huỳnh Văn C. Thực tế con (T) vẫn ở với bà từ khi sinh ra cho đến nay. Do đó bà mong muốn được cãi chính hộ tịch điều chỉnh họ tên mẹ trong giấy khai sinh của Huỳnh Thị Phương T để thuận tiện cho những việc liên quan đến cá nhân của con sau này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
Bà Huỳnh Thị Phương T trình bày : Trong giấy khai sinh có ghi tên mẹ là bà Hứa Thị Kim H vì lúc này mẹ ruột của bà muốn bà có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh để thuận tiện trong việc đi học. Do đó mẹ (bà M) đồng ý để mẹ (bà H) đứng tên trong giấy chứng sinh để làm khai sinh cho bà. Nay bà đã trưởng thành muốn nhận lại mẹ ruột của mình để cãi chính hộ tịch và đồng ý với yêu cầu của bà M về xác nhận mẹ cho con.
Bà Hứa Thị Kim H trình bày : Năm 1994 bà có đứng tên trên giấy chứng sinh khi bà Lữ Thị M sinh con. Bà M với ông Huỳnh Văn C không đăng ký kết hôn. Mục đích là để làm giấy khai sinh cho Huỳnh Thị Phương T có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh, thuận tiện trong việc đi học. Khi làm giấy khai sinh ông C có ra Ủy ban nhân dân phường xác nhận cháu T là con ruột của ông nên tên cha ghi Huỳnh Văn C. Thực tế cháu Huỳnh Thị Phương T là con của bà Lữ Thị M với ông Huỳnh Văn C. Nay bà đồng ý xác nhận bà M là mẹ của cháu T để cãi chính hộ tịch cho cháu.
Ông Huỳnh Văn C trình bày : Năm 1990 ông và và bà Lữ Thị M chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 1994 bà M sinh con, vì mong muốn con có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh nên nhờ người họ hàng là bà Hứa Thị Kim H đứng tên trong giấy chứng sinh để đi làm khai sinh cho con và đặt tên con là Huỳnh Thị Phương T. Ông có ra Ủy ban nhân dân phường xác nhận là con nên trong giấy khai sinh có ghi tên cha là Huỳnh Văn C. Nay ông đồng ý xác nhận lại mẹ cho con là bà Lữ Thị M để thuận tiện trong vấn đề về nhân thân của con sau này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị Phương T và bà Hứa Thị Kim H đang cự ngụ tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 11 Điều 29; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 và Điều 369 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự:
- Bà Lữ Thị M yêu cầu Tòa án xác nhận Huỳnh Thị Phương T sinh ngày 26/03/1994 là con của bà. Bà Huỳnh Thị Phương T, bà Hứa Thị Thu H1, ông Huỳnh Văn C cùng đồng ý.
- Căn cứ Kết quả xét nghiệm DNA huyết thống số 88411-DTHPT-DNA HT ngày 08/01/2024 của Bệnh viện truyền máu huyết học thuộc Sở y tế Thành phố H thể hiện: „’Kết quả cho thấy người con và người mẹ giả định có chung một số gen ở tất cả các loci được khảo sát nên không loại bỏ được sự liên hệ huyết thống mẹ con. Mặc khác dựa vào số liệu tần suất các gen alen của người Việt Nam ở các loci trên và sau khi so sánh những dữ liệu có được với một người Việt Nam không liên hệ huyết thống, xác xuất bà Lữ Thị M là mẹ đẻ của Huỳnh Thị Phương T là 99.9999% ‘’
Căn cứ Điều 89, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu của bà Lữ Thị M là có cơ sở để chấp nhận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật : Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự.
+ Về nội dung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời khai của đương sự tại phiên họp, đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng Điều 369 và Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 89, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Lữ Thị M.
Lệ phí giải quyết việc dân sự : Bà M thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 11 Điều 29, điểm a Khoản 2 Điều 35, điểm b Khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 89, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình của bà Lữ Thị M.
Tuyên bố: Xác định bà Lữ Thị M là mẹ của bà Huỳnh Thị Phương T, sinh ngày 26/03/1994 (Giới tính nữ), căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 26/12/2021.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà M thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày công bố quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự - TAND TP. HCM - VKSND Q.Tân Phú - Chi cục THA Q.Tân Phú - Lưu VP, hồ sơ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Hương |