vanban.org

Quyết định 15/QĐ-TA

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 17/07/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T L tại Cơ sở cai nghiện ma túy L (Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh L).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội thành phố T, tỉnh L có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tỉnh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T L tại Cơ sở cai nghiện ma túy L (Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh L).
  • Căn cứ chính? Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/QĐ-TAT, ngày 17 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH L

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Tố Loan.

2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Văn Hà.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L, Tòa án nhân dân thành phố T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 15/2023/QĐ-TA ngày 12 tháng 7 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Phạm T L; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 13 tháng 3 năm 1996

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

CCCD: 080096013246 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 01/4/2022.

Trình độ học vấn: Lớp: 12/12;

Quê quán: tỉnh L.

Nơi cư trú: số 512 đường V, phường C, thành phố T, tỉnh L.

Nghề nghiệp: không.

Tiền án: Không.

Tiền sự:

Ngày 28/03/2023, bị Công an phường C, thành phố T, tỉnh L ra quyết định xử phạt VPHC số 25/QĐ-XPHC, phạt tiền 1.500.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chấp ma túy, loại ma túy sử dụng: ma túy tổng hợp Methamephetamine (ma túy đá). Cùng ngày, chủ tịch UBND phường C thành phố T, tỉnh L ra quyết định số 466/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 10/04/2023, bị Công an phường C thành phố T, tỉnh L ra quyết định xử phạt VPHC số 29/QĐ-XPHC, phạt tiền 2.000.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chấp ma túy, loại ma túy sử dụng: ma túy tổng hợp Methamephetamine (ma túy đá).

Con ông Phạm Hùng D (chết) và bà Châu Thị C V.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hữu Lợi - Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố T, tỉnh L.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh L: bà Nguyễn Thị Chăm, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Phạm T L là đối tượng nghiện ma túy, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn không từ bỏ, cụ thể: Vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 24/03/2023, tại số 247 tỉnh lộ 827, ấp Bình Nam, xã Bình Tâm, thành phố T, tỉnh L, Phạm T L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là ma túy tổng hợp (ma túy đá), hình thức sử dụng là hút; tần suất sử dụng từ 1 đến 2 lần/tuần, bị xử phạt theo quyết định xử phạt VPHC số 25/QĐ-XPHC ngày 28/03/2023, phạt tiền 1.500.000 đồng. Vào lúc 19 giờ 00, ngày 05/04/2023, tại bãi đất trống trên đường Hùng Vương nối dài, phường 6, thành phố T, tỉnh L, Phạm T L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là ma túy tổng hợp (ma túy đá), hình thức sử dụng là hút; tần suất sử dụng từ 1 đến 2 lần/tuần, bị xử phạt theo quyết định xử phạt VPHC số 29/QĐ-XPHC ngày 10/4/2023, phạt tiền 2.000.000 đồng. Ngày 14/4/2023, gia đình đã đăng ký cho Phạm T L cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời hạn 12 tháng, Chủ tịch UBND phường C, thành phố T, tỉnh L ra quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 đối với Phạm T L. Tuy nhiên, đến ngày 22/6/2023 qua xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể người đang cai nghiện tự nguyện tại gia đình cộng đồng thì Phạm T L vẫn dương tính với chất ma túy tổng hợp.

Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 29/6/2023 của Bệnh Viện tâm thần – Sở Y tế tỉnh L xác định Phạm T L có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Amphetamine (ATS)

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, UBND phường C đã lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Phạm T L do có hành vi tiếp tục sử dụng tái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tự nguyện tại gia đình.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, Công an phường C, thành phố T đã ra thông báo số 176/TB-CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T L.

Ngày 03 tháng 7 năm 2023, UBND phường C, thành phố T, tỉnh L có văn bản số 1039/ĐN- CNBB đề nghị Phòng lao động - Thương binh và xã hội thành phố T, tỉnh L xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T L.

Ngày 10 tháng 7 năm 2023, Phòng Lao động -Thương binh và xã hội thành phố T có văn bản số 1687/ĐN - CNBB về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy Long An và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố T để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phạm T L vào Cơ sở cai nghiện ma túy Long An, thời hạn từ 12 đến 24 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội thành phố T đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T xem xét áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy Long An (Địa chỉ: ấp 2, xã Thủy Tây, huyện Thạnh Hóa, tỉnh L) đối với người bị đề nghị là Phạm T L, thời hạn từ 12 đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu ý kiến: về nội dung và trình tự thủ tục từ lúc lập hồ sơ cho đến khi mở phiên họp là đảm bảo các quy định của pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là Phạm T L với thời hạn 24 tháng.

Phạm T L vắng mặt tại phiên họp không có lý do chính đáng.

XÉT THẤY:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì Phạm T L có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 512 đường Hùng Vương, phường C, thành phố T, tỉnh L đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Amphetamine.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm T L đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần do liên tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là ma túy tổng hợp (ma túy đá), hình thức sử dụng là hút; tần suất sử dụng từ 1 đến 2 lần/tuần. Phạm T L đã đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo quyết định số 593/QĐ-UBND ngày 14/4/2023. Tuy nhiên, đến ngày 22/6/2023 qua xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể người đang cai nghiện tự nguyện thì Phạm T L lại dương tính với Amphetamine (ATS). Cho thấy, Phạm T L vẫn tiếp tục vi phạm trong thời gian cai nghiện tự nguyện tại gia đình. Do đó, UBND phường C, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội đã đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T L với lý do: Tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo qui định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Phòng chống ma túy số 73/2021/QH14 ngày 30/3/2021 của Quốc hội.

Về trình tự thủ tục lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thời hiệu áp dụng đối với Phạm T L phù hợp với quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Phạm T L đã nhiều lần bị xử lý vi phạm hành chính do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 21/6/2023 nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi vi phạm, Phạm T L có tự nguyện khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, Phạm T L thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện tại lời khai và bản tường trình, phù hợp với kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Phạm T L và biên bản vi phạm hành chính do Công an phường C, thành phố T, tỉnh L lập. Phạm T L là người đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn vi phạm. Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T đề nghị đưa Phạm T L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Xét thấy, việc sử dụng ma túy là một vấn nạn của xã hội, cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm về ma túy và các loại tội phạm khác. Để tạo điều kiện cai nghiện ma túy cho Phạm T L nên việc áp dụng biện pháp đưa Phạm T L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố T đề nghị đưa Phạm T L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào các Điều 3, 23, 24, 25, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Áp dụng các Điều 6, 7, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105 và Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính,

Áp dụng khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T L tại Cơ sở cai nghiện ma túy L (Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh L).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội thành phố T, tỉnh L có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tỉnh L có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Phạm T L có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố T đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội thành phố T tỉnh L phối hợp với Công an thành phố T đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ