- Tranh chấp gì? "Trương Anh P"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Trương Anh P.
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI ————— Số:15/QĐ-TA | Biên Hòa, ngày 19 tháng 03 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA- TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Triều Châu
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Tuyền- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 19 tháng 03 năm 2020, tại trụ sở Khu xã hội thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 16/QĐ-TA ngày 10 tháng 03 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Trương Anh P, sinh năm 1995. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 2/12. Nơi đăng ký HKTT: Khu vực Hòa An, Phường Thới Hòa, Quận X, Thành phố Y. Chỗ ở: Không ổn định. Nghề nghiệp: Không. Con ông Trương Văn Cổ và bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng; Tiền án: Không; Tiền sự: Không (Có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Xuân Trúc - Chuyên viên Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: Ông Mai Văn Thông- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai tại Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đ vào ngày 11/01/2020, anh Trương Anh P thừa nhận đã sử dụng chất ma túy từ tháng 04 năm 2019 và lần sử dụng ma túy gần đây nhất vào ngày 11/01/2020 tại địa bàn Khu phố Long Đức 3, phường T, thành phố B. Anh P cũng thừa nhận không có nơi ở ổn định.
Theo biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 11/01/2020 và tại phiếu trả lời kết quả của Bác sỹ- Trưởng Trạm y tế phường T, thành phố B về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đã xác định: Anh P có nghiện ma túy, loại Methamphetamine (ma túy đá). Ngày 11/01/2020, Công an phường T, thành phố B đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với anh P về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú của Công an phường T, thành phố B vào 12 tháng 01 năm 2020 thì anh P không có đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú tại phường T, thành phố B.
Ngày 12/01/2020, Chủ tịch UBND phường T, thành phố B có Văn bản số 54/QĐ
- UBND về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P. Ngày 18/02/2020, Trưởng phòng Tư pháp thành phố B, tỉnh Đ có văn bản số 43/TB-PTP về việc kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trương Anh P. Ngày 05/03/2020, Trưởng phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố B có công văn số 109/LĐTB&XH đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P.
Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16 tháng 03 năm 2020 của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đã xác định: Anh P có nghiện ma túy loại Methamphetamine.
Tại phiên họp, anh P thừa nhận đã sử dụng chất ma túy từ tháng 04 năm 2019 và lần sử dụng ma túy gần đây nhất là vào ngày 11/01/2020, tại địa bàn phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đại diện Phòng lao động- Thương binh và Xã hội thành phố B giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh P. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng lao động- Thương binh và Xã hội thành phố B.
XÉT THẤY:
Về căn cứ, đối tượng áp dụng: Anh P là người trên 18 tuổi, đang nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định. Căn cứ vào Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ) thì đây là đối tượng cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày 11/01/2020, anh P sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó bị công an phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa phát hiện và lập biên bản về vi phạm hành chính. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/ 12/ 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp này hiện đang trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đã được thực hiện theo đúng quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ); Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09 tháng 07 năm 2015 của Bộ Y tế, Bộ Lao động- Thương binh và xã hội, Bộ Công an; Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07 tháng 02 năm 2018 của Bộ Công an.
Như vậy, việc Phòng lao động- Thương binh và Xã hội thành phố B đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Trương Anh P.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 12/01/2020.
3. Anh Trương Anh P có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (19/03/2020).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B và Công an thành phố B có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐ-TB&XH; - Trưởng Công an thành phố Biên Hòa; - Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh ĐN; - VKSND thành phố Biên Hòa; - UBND P. An Hòa, thành phố Biên Hòa - Lưu: VT, hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Triều Châu |