vanban.org

Quyết định 15/QĐ-TA

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 21/04/2017 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bạc Liêu thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bạc Liêu đối với A, sinh năm 1991.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày A bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3 A có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bạc Liêu thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bạc Liêu đối với A, sinh năm 1991.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Thông tư số 14/2014/TT-BLĐTBXH Ban hành biểu mẫu về lập hồ s…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Q
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/QĐ-TATP. Q, ngày 21 tháng 04 năm 2017.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q – TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Việt Quỳnh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Kiều Thảo.

Ngày 21 tháng 04 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bạc Liêu. Tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 14/QĐ-TA ngày 14 tháng 04 năm 2017 đối với:

Họ và tên: A; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 12 tháng 01 năm 1991;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 1/12;

Nguyên quán: Tỉnh Bạc Liêu;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khóm M, phường N, thành phố Q, tỉnh Bạc Liêu;

Nghề nghiệp: Làm thuê;

Tiền án: Không

Tiền sự 01 lần: Ngày 08/12/2016 Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 106/QĐ-UBND đối với A, thời gian áp dụng là 03 tháng, đến ngày 08/03/2017 được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong.

Con ông B, sinh năm 1957 và bà H sinh năm 1959.

A có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Vũ Viết Thạch – Chuyên viên phòng Lao động – thương binh xã hội thành phố Q.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Khoảng 07 giờ 45 phút, ngày 22/03/2017 sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an phường N thành phố Q, tỉnh Bạc Liêu tiến hành kiểm tra địa điểm theo tin báo tại số X, khóm M, phường N, thành phố Q phát hiện đối tượng có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên lực lượng Công an phường N đã mời đối tượng trên về Trụ sở Công an phường N làm việc. Tại biên bản ghi lời khai, biên bản làm việc và bản tường trình ngày 22/03/2017 đối tượng khai nhận tên A, sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khóm M, phường N, thành phố Q, tỉnh Bạc Liêu, bản thân có sử dụng chất ma túy từ khoảng năm 2013 loại cần sa, hình thức sử dụng là hút, sau khi đi cai nghiện về địa phương ngoài sử dụng cần sa còn sử dụng ma túy tổng hợp (Methamphetamine), hình thức sử dụng là dùng bình tự chế vỏ chai nhựa nước giải khát, trên nắp chai đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống nhựa hút nước giải khát, lỗ còn lại gắn ống thủy tinh hình phễu và cho ma túy đá vào phễu thủy tinh, dùng quẹt gas đốt nóng phễu thủy tinh cho ma túy đá nóng chảy bốc hơi thành khói sau đó dùng miệng ngậm ống hút, hút khói ma túy để đưa vào cơ thể. Công an phường N, thành phố Q đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với đối tượng A về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, sau đó đưa đối tượng A đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bạc Liêu để xét nghiệm ma túy và có kết quả dương tính với loại ma túy Methamphetamine.

Công an phường N, thành phố Q đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A và Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q ban hành công văn kiểm tra tính pháp lý, sau đó chuyển hồ sơ đến phòng Tư pháp thành phố Q. Phòng Tư pháp thành phố Q sau khi kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đã chuyển hồ sơ đến Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Q. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Q sau khi xem xét hồ sơ đã ban hành Tờ trình đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A gửi Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu kèm hồ sơ vụ việc.

Tại phiên họp, ông Vũ Viết Thạch đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Q trình bày: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Q ban hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bạc Liêu thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bạc Liêu thời hạn 24 tháng.

Người bị đề nghị A trình bày: Khoảng hơn 01 tháng nay bản thân đã không còn sử dụng ma túy, hiện đang đi làm thuê kiếm sống, xin được ở lại địa phương, cam đoan sẽ không tiếp tục sử dụng ma túy.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q về tố tụng: Quá trình thụ lý và mở phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Q đã chấp hành đúng Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.

XÉT THẤY:

Ngày 22/03/2017 Công an phường N, thành phố Q, tỉnh Bạc Liêu tiến hành mời đối tượng A về trụ sở Công an phường N, thành phố Q để làm việc vì đối tượng A có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Biên bản ghi lời khai, biên bản làm việc và bản tường trình ngày 22/03/2017 của A thừa nhận mình là người nghiện ma túy tổng hợp (Methamphetamine) và Cần sa dưới hình thức là hút. Căn cứ phiếu xét nghiệm miễn dịch ngày 22/03/2017 và phiếu trả lời kết quả ngày 22/03/2017 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bạc Liêu kết luận “Xác định đối tượng A có nghiện ma túy, dương tính Methamphetamine”.

Xét A là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi có nơi cư trú ổn định, đã bị Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 106/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 do nghiện ma túy nhưng vẫn còn nghiện. Căn cứ vào Thông tư số 14/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12/6/2014 của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội, căn cứ tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và căn cứ tại Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 xác định A thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp.

Ngày 29/03/2017 Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q ban hành văn bản số 04/UBND về việc đề nghị Phòng Tư pháp thành phố Q kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để lập hồ sơ đối với A đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ trên cho Phòng Tư pháp thành phố Q.

Ngày 29/03/2017, Phòng Tư pháp thành phố Q ban hành thông báo số 13/TB-PTP về việc “Kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để lập hồ sơ đối với A”.

Ngày 04/04/2017, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Q ban hành tờ trình số 67/TTr-LĐTBXH về việc “xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A” gửi Tòa án nhân dân thành phố Q kèm hồ sơ vụ việc.

Xét thấy trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A là phù hợp với quy định của pháp luật quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, các Điều 8,9,10,11,12,13 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, đảm bảo về thời hiệu áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính nên được Tòa án nhân dân thành phố Q chấp nhận.

Đối tượng A bị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Q đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Q theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014.

Tình trạng nghiện ngập ma túy hiện nay đang là tệ nạn nhức nhối của xã hội, là tiền đề làm phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Bản thân A là người trưởng thành, lẽ ra A phải siêng năng lao động nuôi sống bản thân và gia đình nhưng A lại sa ngã, vướng vào nghiện ngập ma túy. Năm 2013, sau khi A bị đưa đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng tại Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội tỉnh Bạc Liêu về lại tái nghiện, ngày 08/12/2016 Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 106/QĐ-UBND thời gian áp dụng là 03 tháng, đến ngày 08/03/2017 được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong nhưng A vẫn tiếp tục tái nghiện và bị phát hiện hành vi vào ngày 22/3/2017, nên khả năng tự cai nghiện của A là không có. Do vậy, để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy để đối tượng A có điều kiện tái hòa nhập với cộng đồng, xã hội thì việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Q là cần thiết. Tòa án nhân dân thành phố Q căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Q.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bạc Liêu thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bạc Liêu đối với A, sinh năm 1991.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày A bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3 A có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Q có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Q phối hợp với Công an thành phố Q thi hành quyết định này.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ