vanban.org

Quyết định 15/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Thanh Hoá, địa chỉ: xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đối với: Phạm Văn D.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phạm Văn D có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Thanh Hoá, địa chỉ: xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đối với: Phạm Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/QĐ-TANgọc Lặc, ngày 28 tháng 11 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Văn Thịnh

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Mỹ Duyên

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 16/QĐ-TA ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Phạm Văn D

Giới tính: Nam

Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1987

CCCD số: 038087003665

Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Trình độ văn hóa: 12/12

Nguyên quán: Thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Hộ khẩu thường trú: Khu phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hoá

Chỗ ở: Khu phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hoá

Hiện được giao cho bà Lê Thị T (mẹ đẻ của D) quản lý từ ngày 04/11/2024 theo Quyết định số 328/QĐ-QLNN ngày 04/11/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 12/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Ngày 06/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Con ông: Phạm Ngọc H (Chết) và bà Lê Thị T.

Vắng mặt tại phiên họp, có đề nghị giải quyết vắng mặt.

Có sự tham gia của:

1. Người đề nghị: Ông Quách Văn T1 – Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Văn L - Cán bộ phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N, tỉnh Thanh Hoá.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Sau khi Phạm Văn D chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trở về địa phương. Ngày 17/4/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú số 90/QĐ-UBND đối với D với thời hạn 02 năm. Trong thời gian này, gia đình phát hiện D có biểu hiện tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã báo cáo chính quyền địa phương. Sau khi xác minh, làm rõ, Công an thị trấn N đã có văn bản đề nghị xác định tình trạng nghiện ma tuý gửi Trung tâm y tế huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 04/11/2024, Trung tâm y tế huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã phát hành Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý đối với D. Tại bản tường trình ngày 04/11/2024, D cũng thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma tuý. Xác định trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy D đã tái nghiện, Ủy ban nhân dân thị trấn N đã lập Biên bản vi phạm về quản lý sau cai nghiện ma tuý đối với D.

Ngày 04/11/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn N đã ra Quyết định số 328/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D cho người được quản lý là bà Lê Thị T (mẹ đẻ của D).

Ngày 04/11/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn N đã có văn bản gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D.

Ngày 11/11/2024, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N đã có công văn số 200/ĐN-CNBB đề nghị Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xem xét áp dụng biện pháp đưa D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng.

Tại phiên họp, người đại diện theo uỷ quyền của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N giữ nguyên quan điểm và đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 02 Thanh Hoá, địa chỉ: xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đối với D với thời gian 24 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét và quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị chấp nhận đề nghị của Trưởng phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện N: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D, thời hạn 24 tháng.

XÉT THẤY:

Phạm Văn D sau khi chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trở về địa phương, bị quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo Quyết định số 90/QĐ-UBND ngày 17/4/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn N. Trong thời gian này, D tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Công an thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã có văn bản đề nghị xác định tình trạng nghiện ma tuý gửi Trung tâm y tế huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Trung tâm y tế huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã xét nghiệm và xác định D nghiện ma tuý loại Heroine. D đã trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện và đã bị lập Biên bản vi phạm về quản lý sau cai nghiện ma tuý. Vì vậy hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn N và Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N đối với D là đúng với trình tự và quy định của pháp luật theo các Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Phạm Văn D là đối tượng nghiện ma tuý, sau khi chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trở về địa phương, bị quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú nhưng D vẫn không chịu tu trí, không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, sửa chữa lỗi lầm, quyết tâm cai nghiện để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định của pháp luật

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân: Phạm Văn D có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm; tình tiết giảm nhẹ: D đã tự nguyện khai báo về hành vi của mình; nhân thân: Ngày 30/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 07/2018/HS-ST, đã chấp hành xong hình phạt.

Xét đề nghị của Trưởng phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện N và quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và bảo đảm trật tự an toàn xã hội tại địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho người vi phạm được học tập, giáo dục để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, cần xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để D có thời gian cai nghiện, lao động và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 107; Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý; Điều 8; khoản 2 Điều 20; Điều 21; Điều 23; Điều 24; Điều 25; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Thanh Hoá, địa chỉ: xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đối với: Phạm Văn D.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phạm Văn D có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện N phối hợp với Công an huyện N đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ