vanban.org

Quyết định 15/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 18/09/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự;

của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Thân Thị N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Thân Thị N - Thân Thị S"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2024/QĐST- VDSTân Yên, ngày 18 tháng 9 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Thị Vân Anh

Thư ký phiên họp: Bà Đồng Khánh Ly – Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên họp: Ông Vi

Văn Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh

Bắc Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 09/2024/TLST-VDS ngày 02/5/2024 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 09/2024/QĐST- VDS ngày 10 tháng 9 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Thân Thị N, sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (có đơn xin vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Thân Thị S, sinh năm 1977;

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

+ Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1951; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc

Giang (vắng mặt).

+ Chị Thân Thị M, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Bình

Phước (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn đề nghị giải quyết việc dân sự, bản tự khai và tại phiên họp bà

Thân Thị N trình bày:

Bà có người chị gái ruột tên là Thân Thị S, sinh năm 1977. Chị S chưa có

chồng và sinh sống cùng mẹ tôi tại quê nhà tại xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Năm 2001, chị S bỏ đi khỏi địa phương, không có liên lạc và tin tức gì, khi chị S bỏ nhà đi, gia đình đã tìm kiếm nhiều năm nhưng không ai biết chị S đi đâu, làm gì, chị S cũng không liên lạc về nhà. Từ đó đến nay không ai biết chị S ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.

Vậy bà N làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Yên tuyên bố một

người là đã chết đối với chị Thân Thị S, sinh năm 1977; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Do bà đang sinh sống ở thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; gia đình có hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện đi lại để giải quyết công việc nên bà xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên họp. Ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

Tại bản khai của bà Thân Thị M trình bày:

Bố mẹ bà sinh được 03 người con là Thân Thị N, Thân Thị S và bà. Hiện

nay bà lấy chồng ở Bình Phước nên không chung sống cùng gia đình tại xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Chị S chưa có chồng nên sinh sống cùng mẹ tại quê nhà tại xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Năm 2001, chị S bỏ đi khỏi địa phương, không có liên lạc và tin tức gì, khi chị S bỏ nhà đi, gia đình đã tìm kiếm nhiều năm nhưng không ai biết chị S đi đâu, làm gì, chị S cũng không liên lạc về nhà. Từ đó đến nay không ai biết chị S ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết. Nay gia đình bà có nhu cầu giải quyết về đất đai nhưng không ai có tin tức gì về bà S. Vậy bà Thân Thị N có làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên giải quyết việc tuyên bố bà Thân Thị S, sinh năm 1977; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết, bà nhất trí và không có ý kiến gì. Do bà đang sinh sống ở huyện B, tỉnh Bình Phước; gia đình có hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện đi lại để giải quyết công việc nên bà xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên họp.

Tại biên bản lấy lời khai đối với bà Trịnh Thị T trình bày:

Vợ chồng bà là Thân Văn N1 và Trịnh Thị T có sinh được 03 người con là

Thân Thị S, sinh năm 1977; Thân Thị N sinh năm 1981; Thân Thị M, sinh năm 1989. Chồng bà chết năm 2013. Các con của bà là Thân Thị N và Thân Thị M đẫ đi lấy chồng và sinh sống tại tỉnh Bình Phước. Con gái lớn của bà là bà Thân Thị S, sinh năm 1977 sinh sống cùng bà từ khi còn nhỏ tại Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Bà S chưa có chồng nên vẫn sinh sống cùng tôi. Khoảng từ năm 2001 bà S đã bỏ nhà đi đâu gia đình tôi không rõ. Sau khi bà S bỏ đi, gia đình đã tìm kiếm nhiều năm nhưng không có tin tức gì của bà S. Nay gia đình bà có nhu cầu giải quyết về đất đai nhưng không ai có tin tức gì về bà S. Vậy con gái bà là bà Thân Thị N có làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên giải quyết việc tuyên bố bà Thân Thị S, sinh năm 1977; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết, bà nhất trí và không có ý kiến gì. Do bà bị bệnh nặng, tuổi cao sức yếu nên bà xin Tòa án cho bà vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên họp.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm giải quyết việc dân sự: Đề nghị

Tòa án điểm d, khoản 1, điều 71 Bộ luật dân sự. Điều 392, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, khoản 4; khoản 2 Điều 12 nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Thân Thị N tuyên bố Thân Thị S, sinh năm

1977; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết kể từ ngày 18/9/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được

thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên nhận định:

Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền giải quyết: Bà Thân Thị N yêu cầu giải

quyết tuyên bố một người là đã chết đối với bà Thân Thị S, sinh năm 1977; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải quyết yêu cầu việc dân sự là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu tuyên bố một người là đã chết: Bà Thân Thị S, sinh năm

1977; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Bà S bỏ nhà đi từ năm 2001 đến nay bà S không có liên lạc với gia đình và địa phương. Gia đình bà S đã tìm kiếm nhưng không có kết quả, sau khi Tòa án thụ lý việc dân sự đã thông báo tìm kiếm bà Thân Thị S trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Đã hết thời hạn thông báo 04 tháng nhưng không có tin tức về bà S. Tại các biên bản xác minh với địa phương đều xác nhận từ năm 2001 cho đến nay đều không có tin tức gì của bà S. Nay bà Thân Thị N có đơn đề nghị tuyên bố bà Thân Thị S là đã chết. Xét thấy, bà Thân Thị N yêu cầu tuyên bố bà Thân Thị S đã chết và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang là có căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự. Tại điểm d khoản 1 điều 71 Bộ luật dân sự quy định: “ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:....d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống.....”. Bà Thân Thị S đã bỏ nhà đi từ năm 2001 đến nay là 23 năm liền không có tin tức xác thực bà S còn sống. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của bà Thân Thị N tuyên bố một người là đã chết đối với bà Thân Thị S.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Thân Thị N là người yêu

cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên bà N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39;

Điều 361; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 391; Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự;

Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Thân Thị N.

2. Tuyên bố Thân Thị S, sinh năm 1977; nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã N,

huyện T, tỉnh Bắc Giang là đã chết kể từ ngày 18/9/2024.

3. Về chi phí đăng thông báo tìm kiếm: Bà Thân Thị N phải chịu 3.060.000

đồng tiền chi phí đăng thông báo tìm kiếm, bà N đã nộp và Tòa án đã thanh toán xong với bà N.

4.Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Thân Thị N phải chịu 300.000 đồng

(Ba trăm nghìn đồng). Số tiền bà N phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0006817 ngày 02/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Bà N đã nộp đủ số tiền.

5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền

kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên có quyền kháng nghị quyết định này

trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành

án theo quy định của Luật thi hành án dân sự đối với quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ