- Tranh chấp gì? "Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T7.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 15/2024/QĐ-TA | Long Xuyên, ngày 27 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thùy Giang
2. Thư ký phiên họp: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc
Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 17/2024/QĐ-TA ngày 16 tháng 02 năm 2024, đối với:
Họ và tên: Trần Văn T7;Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 13 tháng 8 năm 1990; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: không;
Trình độ văn hóa: 02/12;Nghề nghiệp: Không có;
Nơi đăng ký thường trú: Không có (nơi sinh: xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang);
Nơi cư trú hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định ;
Số định danh cá nhân, chứng minh nhân dân: Không có;
Con ông: Trần Văn P (đã chết) và Huỳnh Thị Phương L4 (đã chết);
Tiền án: 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” (năm 2016) và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (năm 2020);
Tiền sự: 02 tiền sự, 01 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và 01 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Tô Thanh T2 – Công chức Phòng Lao động
- Thương binh và Xã hội thành phố L (theo văn bản ủy quyền của Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L: Ông Nguyễn Chí Đ – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Hồi 09 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2024, Công an phường Đ mời Trần Văn T7 (sinh năm 1990, khai thường trú tại xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; hiện ngụ khóm B, phường B, thành phố L) nghi vấn sử dụng ma túy trái phép trên địa bàn phường Đ, để thử test tìm chất ma túy, kết quả dương tính với H. Quá trình thẩm vấn T7 thừa nhận có sử dụng ma túy trái phép từ năm 2016. Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm Y tế thành phố L kết luận T7 nghiện Heroin.
Cùng ngày 22 tháng 01 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường Đ ban hành số Quyết định số 99/QĐ-UBND, giao Thái cho ông Trần Đức T8, hiện là Cảnh sát khu vực khóm Đ, phường Đ quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Do Trung tâm cai nghiện tỉnh A đang trong tình trạng quá tải nên không tiếp nhận đối tượng xã hội).
Phiếu trả lời xác minh thông tin về tình trạng cư trú của người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Công an xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang xác nhận: Trần Văn T7 không có đăng ký thường trú tại địa phương. Kết quả xác minh ngày 23 tháng 01 năm 2024 tại Công an phường B, thành phố L, xác nhận: Trần Văn T7 không có đăng ký thường trú, tạm trú tại địa phương. Như vậy, ở thời điểm Công an phường Đ mời thử test tìm chất ma túy thì T7 thuộc diện không có nơi cư trú ổn định.
Ngày 02 tháng 02 năm 2024, sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý, đồng thời cũng không nhận được ý kiến đăng ký các hình thức cai nghiện theo quy định tại Luật phòng, chống ma túy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ có Công văn số 143/ĐN-UBND đề nghị đưa T7 đi cai nghiện ma túy bắt buộc.
Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L vẫn giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp đưa Trần Văn T7 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang với thời hạn 24 tháng.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: (1) Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị. Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện đúng quy định theo Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2023. (2) Việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Trần Văn T7 thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính (Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-VPQH ngày 29 tháng 12 năm 2022) (sau đây viết là Luật Xử lý vi phạm hành chính). Về tình tiết giảm nhẹ: Trần Văn T7 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp, không thể hiện thái độ thành thật hối lỗi nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tình tiết tăng nặng: Trần Văn T7 đang có 02 tiền án và 02 tiền sự lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính. (3) Do đó, căn cứ các Điều 95, 96, 103, điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T7, thời hạn áp dụng từ 18 tháng đến 20 tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung phát biểu của đại diện Cơ quan đề nghị và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, xét thấy:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L đối với Trần Văn T7 thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục tại các Điều 6, 96, 103 và Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về nhân thân: Căn cứ hồ sơ và lời khai của Trần Văn T7 xác định Trần Văn T7 có 02 tiền án, 02 tiền sự và là đối tượng đã sử dụng ma túy trong thời gian dài.
Về hành vi vi phạm pháp luật: Lời khai của Trần Văn T7 trong quá trình lập hồ sơ phù hợp với các kết quả xét nghiệm ma túy; kết quả xác minh nơi cư trú; biên bản vi phạm hành chính. Có đủ căn cứ xác định Trần Văn T7 là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, không có nơi cư trú ổn định, đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 22 tháng 01 năm 2024 và bị phát hiện. Do đó, cần có thời gian hỗ trợ cai nghiện để hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L về việc đưa Trần Văn T7 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính nên được chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bản thân T7 đang còn tiền án, tiền sự chưa được xóa, trong đó có tiền án về tội phạm ma túy, tiền sự do bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, T7 lại không kiềm chế được bản thân mà tiếp tục vi phạm pháp luật thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nên cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính đối với T7. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sở xử lý và tại phiên họp xét thấy T7 có khai báo với cơ quan chức năng nhưng khi được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp thì T7 vắng mặt, không thể hiện được thái độ thành thật hối lỗi, nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ:
- Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 10; các Điều 95, 96, 103, 104, 105, 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính (Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-VPQH ngày 29 tháng 12 năm 2022);
- Các Điều 22, 23, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy;
- Điều 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T7.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trần Văn T7 là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trần Văn T7 được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án theo khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022.
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng L phối hợp với Công an thành phố L đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy t. An Giang; - VKSND tp. L; - Công an tp. L; - Trưởng phòng LĐTB&XH tp. L; - UBND p. Đ, tp. L; - Lưu hồ sơ./. | THẨM PHÁN Nguyễn Thùy Giang |