vanban.org

Quyết định 15/2023/QĐ-TA

TAND huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 20/04/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phạm Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2023/QĐ-TATY, ngày 13 tháng 02 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Phú Duy.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hiển.

Ngày 13 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quyết định mở phiên họp số 16/2023/QĐ-TA ngày 06/02/2023 đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 14/11/1988

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Số CCCD: 015088002372, cấp ngày: 29/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Quê quán: xã B, TY, Yên Bái.

Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn T, xã B, huyện TY, tỉnh Yên Bái;

Con ông: Phạm Văn H (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị B.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 27/9/2021 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn là 3 tháng (ngày 26/12/2021 đã chấp hành xong).

Phạm Văn T vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Bích Huệ – Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TY, tỉnh Yên Bái.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Phạm Văn T là người sử dụng chất ma túy (Heroin) từ tháng 9 năm 2019, hình thức sử dụng là chích vào cơ thể.

Chủ tịch UBND xã B, huyện TY, tỉnh Yên Bái đã ra quyết định số 373/QĐ-UBND ngày 27/9/2021 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng đối với Phạm Văn T. Ngày 26/12/2021, UBND xã B cấp Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 4/GCN-UBND cho Phạm Văn T. Ngày 20/6/2022, Công an xã B, huyện TY, tỉnh Yên Bái tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của Phạm Văn T, kết quả dương tính với ma tuý. Công an xã B sau đó đã phối hợp với Trạm y tế xã B xác định tình trạng nghiện ma tuý đối với Phạm Văn T đã cho kết quả dương tính. Ngày 21/6/2022, Công an xã B đã ra thông báo số 59/TB-CAX về kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý và yêu cầu Phạm Văn T trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc phải đến Công an xã B để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại các cơ sở điều trị nghiện tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Phạm Văn T không đến đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Hành vi của Phạm Văn T đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 5 Điều 27 Luật phòng, chống ma túy và khoản 1 Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Vì vậy, Uỷ ban nhân dân xã B đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với hành vi vi phạm của Phạm Văn T.

Ngày 01/02/2023, Ủy ban nhân dân xã B, huyện TY có văn bản số 02/ĐN-CNBB đề nghị Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương bình và Xã hội huyện TY xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Ngày 02/02/2023, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện TY, tỉnh Yên Bái có văn bản số 13/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện TY xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động – thương binh và Xã hội huyện TY, tỉnh Yên Bái đề nghị Tòa án nhân dân huyện TY áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T với thời gian là 24 (hai mươi bốn) tháng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân huyện TY là đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; đủ cơ sở chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TY, tỉnh Yên Bái. Do đó đề nghị Toà án nhân dân huyện TY chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TY, tỉnh Yên Bái đối với Phạm Văn T với thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ thụ lý số 13/2023/TLST-XLHC ngày 02/02/2023 và nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY về hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T, Tòa án nhân dân huyện TY xét thấy:

Phạm Văn T là đối tượng nghiện ma tuý, loại Heroin, hình thức sử dụng là chích vào cơ thể nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện hoặc đăng ký tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Vì vậy, việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng đối tượng theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý.

Tại bản tường trình, Phạm Văn T cũng đã thừa nhận bản thân nghiện chất ma tuý và lần sử dụng gần đây nhất là vào ngày 10/01/2023 nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện hoặc đăng ký tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Do đó, để Phạm Văn T cai nghiện được ma tuý, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TY đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T là có căn cứ và cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Phạm Văn T không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Xét về thời gian áp dụng xử lý hành chính: Cần buộc Phạm Văn T chấp hành thời hạn cai nghiện bắt buộc ở mức cao nhất 24 (Hai mươi bốn) tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ và đủ thời gian để giáo dục và cai nghiện cho Phạm Văn T.

Từ những phân tích, đánh giá trên xét thấy: Có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TY, tỉnh Yên Bái và chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ các Điều 95, Điều 96, Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;

Căn cứ khoản 2 Điều 19, Điều 22 và Điều 31 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phạm Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TY có quyền kiến nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện TY, tỉnh Yên Bái phối hợp với Công an huyện TY có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ