vanban.org

Quyết định 15/2023/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh T."
  • Tòa quyết gì? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
  • Căn cứ chính? Luật Xử lý hành chính; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2023/QĐ-TA.G, ngày 26 tháng 7 năm 2023.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Bà Nguyễn Bích Thiền

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Hồng Duyên

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại Cơ sở cai nghiện ma túy - Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang, Tòa án nhân dân huyện G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 16/2023/QĐ-TA ngày 17 tháng 7 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Trần Thanh T - Giới tính: Nam. Sinh ngày 30/7/19xx.

CCCD số: 0820xxxxxxxx. Ngày cấp: 29/3/2022. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 4/12.

Nguyên quán: xã TH, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Ấp GĐ, xã TH, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Nghề nghiệp: Chăn nuôi.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 02 lần.

- Lần 1: Ngày 02/5/2023, bị Công an xã TH xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 03/QĐ-CAX về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Lần 2: Ngày 04/5/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TH ban hành Quyết định số 109/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại xã TH với thời hạn 01 năm, tính kể từ ngày 04/5/2023 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

- Năm 2009, bị Tòa án nhân dân huyện G xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Năm 2013, bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 09 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng.

- Năm 2018, bị Tòa án nhân dân thị xã GC xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Ngày 28/9/2021, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã TH với thời hạn là 03 tháng, do nghiện ma túy theo Quyết định số 167/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TH.

Con ông Trần Văn V, sinh năm 19xx và bà Bùi Kim P (đã chết).

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phạm Hồng Phúc - Trưởng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G. Đại diện ủy quyền tham gia phiên họp: Ông Phan Tiến Quân - Chuyên viên Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Gò.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G:

- Ngày 04/5/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TH ban hành Quyết định số 109/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Trần Thanh T tại xã TH với thời hạn 01 năm, tính kể từ ngày 04/5/2023 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Đến ngày 29/6/2023, qua công tác nắm tình hình, rà soát, quản lý đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn, Công an xã TH tiến hành mời đối tượng đến trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, anh thừa nhận có sử dụng chất ma túy, loại ma túy đá, vào ngày 19/6/2023. Công an xã TH tiến hành test nhanh (nước tiểu) đối tượng, kết quả dương tính với chất ma túy. Công an xã TH đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính (Biên bản vi phạm hành chính số 14/BB-VPHC ngày 29/6/2023), đồng thời đưa anh đến Trung tâm y tế huyện G để xác định tình trạng nghiện ma túy, kết quả anh có nghiện ma túy (loại ma túy sử dụng là: Methamphetamine). Công an xã TH đã thông báo cho anh T và gia đình biết về tình trạng nghiện ma túy của bản thân nhưng anh từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện nên trong ngày 29/6/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TH ban hành Quyết định số 154/QĐ-UBND dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Trần Thanh T và giao Công an xã TH tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy. Trên cơ sở đề nghị của Công an xã TH, ngày 29/6/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TH ban hành Quyết định số 156/QĐ-QLNN giao Trần Thanh T cho cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Tại Văn bản đề nghị số 26/ĐN-CNBB ngày 12/7/2023 của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G: Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang.

Tại phiên họp:

- Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy và khoản 2 Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020), đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh T, thời hạn 24 tháng.

- Người bị đề nghị anh Trần Thanh T trình bày: Anh bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2013, loại ma túy anh thường sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine), với hình thức là hút, khoảng 01 - 02 ngày anh sử dụng một lần. Ngày 19/6/2023, anh sử dụng ma túy tại nhà của anh ngụ ấp GĐ, xã TH, huyện G.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh T, thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền và thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án nhân dân huyện G thụ lý, xem xét hồ sơ là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020). Đảm bảo về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Qua xem xét hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G được lập theo đúng quy định tại các Điều 103, 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Theo lời khai nhận của anh Trần Thanh T: Vào ngày 19/6/2023, anh đã sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá (Methamphetamine) với hình thức là hút, tại nhà của anh ngụ ấp GĐ, xã TH, huyện G. Lời khai nhận của anh phù hợp với Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ngày 29/6/2023 của Trung tâm y tế huyện G; trên cơ sở Biên bản vi phạm hành chính số 14/BB-VPHC ngày 29/6/2023 của Công an xã TH, cũng như qua đối chiếu các tài liệu nhân thân của đối tượng đã đủ cơ sở xác định:

Trần Thanh T là người nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định; không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.

Xét thấy, đối tượng được tạo điều kiện để tự cai nghiện tại gia đình trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý tại địa phương nhưng không có ý thức tự giác cãi sửa, tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, vi phạm hành chính nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020). Hơn nữa, hiện tình hình tội phạm ma túy đang diễn ra rất phức tạp, là vấn nạn nhức nhối của xã hội. Để giúp anh chữa bệnh, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện; đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống, ngăn ngừa các loại tội phạm về ma túy và các loại tội phạm khác có thể phát sinh, ổn định trật tự xã hội tại địa phương nên cần thiết phải đưa anh vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.

Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G là hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy;

- Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

- Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện G phối hợp với Công an huyện G đưa Trần Thanh T chấp hành quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang.

Cỡ chữ