- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Số: 15/2022/QĐST-VDS | Đà Lạt, ngày 30 tháng 11 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Loan
Thư ký phiên họp: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên họp: Bà Cao Thị Bích Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số: 143/2022/TLST
- DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc yêu cầu “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 106/2022/QĐST - VDS ngày 18 tháng 11 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị B, sinh năm: 1969; Địa chỉ: đường TVV, phường D, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 1991; địa chỉ: đường TVV, phường D, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu, bản tự khai của người yêu cầu bà Huỳnh Thị B thì: Bà là mẹ ruột của chị Nguyễn Thị Thùy T. Chị T từ khi sinh ra được 03 tháng đã bị co giật, não chậm phát triển tâm thần từ nhỏ, không có khả năng học tập và lao động, mọi sinh hoạt cá nhân của chị T đều phải cần sự giúp đỡ của người thân bên cạnh. Ngày 29/11/2021 chị T được đưa đến khám bệnh taị Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Lâm Đồng chẩn đoán: Chậm phát triển trí tuệ (F71). Ngày 20/5/2022 chị Trang được Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Lạt ra quyết định số 1629/QĐ – UBND về việc trợ cấp xã hội hàng tháng đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Để thuận tiện trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và để thực hiện các giao dịch dân sự, các thủ tục hành chính nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Thùy T mất năng lực hành vi dân sự.
Sau khi nhận được kết luận số 231/KLGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên, ngày 08/11/2022 bà Huỳnh Thị Bình có đơn yêu cầu thay đổi giải quyết việc dân sự từ yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Thùy T mất năng lực hành bi dân sự sang yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Thùy T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà là người giám hộ.
Tại phiên họp, bà Huỳnh Thị B giữ nguyên yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Thùy T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà là người giám hộ.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B, tuyên bố chị Nguyễn Thị Thùy T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà Huỳnh Thị B là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị Thùy T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Huỳnh Thị B yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Thùy T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định bà Huỳnh Thị B là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị Thùy T nên xác định yêu cầu về dân sự “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” được quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị Thùy T cư trú tại thành phố Đà Lạt nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Thùy T tiếp xúc hạn chế, định hướng lực xác định hạn chế, cảm xúc thiếu hòa hợp, tư duy chậm chạp, nội dung nghèo nàn, sự tập trung chú ý kém, trí nhớ kém, không có khả năng phân tích tổng hợp, không có khả năng học tập và lao động, mọi sinh hoạt hàng ngày cần sự giúp đỡ của người thân. Ngày 29/11/2021 chị T được đưa đến khám bệnh taị Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Lâm Đồng chẩn đoán: Chậm phát triển trí tuệ (F71). Ngày 20/5/2022 chị Trang được Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Lạt ra quyết định số 1629/QĐ – UBND về việc trợ cấp xã hội hàng tháng đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Ngày 03 tháng 10 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đã ban hành quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với chị Nguyễn Thị Thùy Trang. Tại Kết luận Giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 231/KLGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đã kết luận: 1. Về y học: Hiện tại đương sự bị bệnh: Chậm phát triển tâm thần vừa (F71 - ICD10); 2. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện tại đương sự: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi (có khó khăn trong nhận thức, làm chủ ở các vụ việc dân sự). Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B: Tuyên bố chị Nguyễn Thị Thùy T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Về chỉ định người giám hộ: Căn cứ giấy khai sinh của chị Nguyễn Thị Thùy T do Uỷ ban nhân dân phường 4, thành phố Đà Lạt cấp thì bà Huỳnh Thị B là mẹ của chị Nguyễn Thị Thùy T. Do đó, chỉ định bà Huỳnh Thị B là người giám hộ cho chị T.
[3] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị Bình phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a Khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 146, Điều 369, 370, 376, 377 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 23; điểm d Khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48; Điều 54; Điều 57; Điều 58 và Điều 59 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B.
1. Tuyên bố chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1991, cư trú tại: số 10 đường Triệu Việt Vương, phường D, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Bà Huỳnh Thị B, năm sinh:1969, cư trú tại: số 10 đường Triệu Việt Vương, phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị Thùy T.
Bà Huỳnh Thị B có quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại Điều 57, Điều 58 và Điều 59 Bộ luật Dân sự năm 2015
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: bà Huỳnh Thị B phải chịu 300.000đ lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0002133 ngày 20/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt. Bà Bình đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, thời hạn kháng cáo là 10 (mười) ngày kể từ ngày ban hành quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tp Đà Lạt; - Chi cục THADS tp. Đà Lạt; - Các đương sự; - Lưu AV - HS. | Nguyễn Thị Loan |