vanban.org

Quyết định 15/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 28/03/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Hữu L và chị Nguyễn Thị Kim O.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của hai bên giao chị O tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Lê Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 06/9/2012 và Lê Hữu H, sinh ngày 25/02/2015. Anh L có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi các con cho chị O là 2.500.000đ/1 con/1 tháng (tổng cộng =… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Hữu L và chị Nguyễn Thị Kim O"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Hữu L và chị Nguyễn Thị Kim O.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2022/QĐST-HNGĐ
Ngày: 28 - 3 - 2022.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(Về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn,

thỏa thuận nuôi con khi ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Chủ tọa phiên họp: Ông Mạc Minh Quang - Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.

- Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 29/2022/TLST-HNGĐ ngày 23/02/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp số 41/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2022, giữa:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Anh Lê Hữu L, sinh năm 1988. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.

- Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1987. Nơi ĐKHKTT: phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Người được anh L ủy quyền giao nhận văn bản: Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1966. Địa chỉ: phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Anh L, chị O và bà P đều đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai của anh L, chị O và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Hữu L và chị Nguyễn Thị Kim O tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 27/02/2012 tại UBND phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc và sinh được 02 con chung là Lê Nguyễn Ngọc A, sinh năm 2012 và Lê Hữu H, sinh năm 2015. Đến năm 2016, chị O và anh L đều đi xuất khẩu lao động sang Nhật Bản làm ăn, sinh sống cho đến khi hết hợp đồng lao động vào năm 2019 cùng về Việt Nam. Sau đó vài tháng anh L tiếp tục đi sang Nhật Bản lao động, còn chị O ở nhà nuôi các con tại gia đình anh L. Đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, chị O đã bỏ về gia đình bố mẹ đẻ ở, từ đó anh chị không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay cả hai xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc và đều làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Anh chị xác định vợ chồng có 02 con chung là Lê Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 06/9/2012 và Lê Hữu H, sinh ngày 25/02/2015; hiện nay hai con đang do chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên thống nhất giao chị O tiếp tục nuôi dưỡng các con chung cho đến khi con trưởng thành, anh L có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị O là 2.500.000đ/1 con/1 tháng (cộng = 5.000.000đ/2 con/1 tháng), kể từ khi ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản, vay nợ: Hai bên đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bà Đỗ Thị P trình bày: Bà là mẹ đẻ anh L, bà nhất trí nhận ủy quyền giao nhận văn bản của anh L và cam kết có trách nhiệm thông báo lại cho anh L biết kết quả giải quyết của Tòa án. Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đã thông báo cho anh L và cho biết anh L vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết công nhận thuận tình ly hôn, đồng ý giao chị O tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và có trách nhiệm đóng góp tiền nuôi con chung cho chị O là 5.000.000đ/2 con/ 1 tháng, kể từ khi ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi, anh L không yêu cầu giải quyết về tài sản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Xác định những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về lệ phí, án phí Tòa án. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Hữu L và chị Nguyễn Thị Kim O. Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của hai bên giao chị O tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Lê Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 06/9/2012 và Lê Hữu H, sinh ngày 25/02/2015; anh L có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi các con cho chị O là 5.000.000đ/2 con/1 tháng, kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về lệ phí: Anh L và chị O phải chịu lệ phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

Về tố tụng: Chị O và anh L đều có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Anh L có hộ khẩu thường trú tại phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương, hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Căn cứ khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền và đơn xin xét xử vắng mặt của anh Lê Hữu L đều được xác nhận của Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Nhật Bản. Do vậy có căn cứ công nhận các văn bản trên là hợp pháp.

Người yêu cầu là anh L, chị O và người được ủy quyền giao nhận văn bản là bà P đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

. Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị O kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 27/02/2012. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh chị tổ chức cuộc sống chung vui vẻ hòa thuận và sinh được 02 con chung. Năm 2016, anh chị đều đi xuất khẩu lao động sang Nhật Bản làm ăn, sinh sống cho đến năm 2019 thì cả hai đều về nước sinh sống. Sau đó vài tháng thì anh L tiếp tục đi lao động tại Nhật Bản cho đến nay chưa về Việt Nam, còn chị O ở nhà nuôi con. Đến năm 2020, anh chị phát sinh mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong việc nuôi dạy con cái và cách quản lý kinh tế gia đình, từ đó hai bên không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, chị O đã đưa cả hai con về gia đình bố mẹ đẻ sinh sống cho đến nay và không ai tìm biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Nay anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không muốn níu kéo cuộc sống chung và đều làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống riêng. Xét mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần công nhận cho anh chị được thuận tình ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lê Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 06/9/2012 và Lê Hữu H, sinh ngày 25/02/2015. Xét thấy các con chung của anh chị đang do chị O trực tiếp nuôi dưỡng đảm bảo về mọi mặt, anh L đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp nuôi con, các con của anh chị đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Hai bên đã thống nhất thỏa thuận giao chị O trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn, anh L cấp dưỡng tiền nuôi các con cho chị O là 2.500.000đ/1 con/1 tháng (cộng = 5.000.000đ/2 con/1 tháng) kể từ khi ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi. Việc thỏa thuận nuôi con của hai bên là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo quyền lợi của các con, cần chấp nhận sự thỏa thuận của các bên theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về tài sản: Anh L và chị O đều không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

. Về lệ phí: Anh L và chị O mỗi người phải chịu 150.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm (cộng bằng 300.000đ). Anh L còn phải chịu 150.000đ lệ phí dân sự về việc thỏa thuận cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Hữu L và chị Nguyễn Thị Kim O.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của hai bên giao chị O tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Lê Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 06/9/2012 và Lê Hữu H, sinh ngày 25/02/2015. Anh L có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi các con cho chị O là 2.500.000đ/1 con/1 tháng (tổng cộng = 5.000.000đ/2 con/1 tháng), kể từ khi ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được ngăn cản.

Kể từ ngày chị O có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi thi hành án xong, anh L còn phải chịu lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về tài sản, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về lệ phí: Anh Vũ Kim L và chị Nguyễn Thị Kim O mỗi người phải chịu 150.000đ (cộng bằng 300.000đ) lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0004958 ngày 23/02/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. (chị O và anh L đã nộp đủ lệ phí ly hôn).

Anh L còn phải chịu 150.000đ lệ phí dân sự về việc thỏa thuận cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành bản án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ