- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Q.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 15/2022/QĐST-DS | TP. Nam Định, ngày 26 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Minh Tuấn
Thư ký phiên họp: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 08/2022/TLST-VDS ngày 19 tháng 4 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2022/QĐST-DS ngày 14 tháng 9 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Q, sinh năm 1962; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Phòng 408 - C18 tập thể T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Phòng 408 - C18 tập thể T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1943, nơi cư trú cuối cùng: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định.
2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1945; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
1. Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ghi ngày 19-4-2022 và biên bản lấy lời khai ngày 27-4-2022, người yêu cầu là bà Trần Thị Q trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1948, quê quán: Xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phòng 408 - C18 tập thể T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vàng Danh, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 17-01-1987. Ông Nguyễn Văn Q1 đã chết ngày 22-9-2010.
Ông Nguyễn Văn Q1 có các quan hệ huyết thống là cha mẹ, các anh chị em ruột trong gia đình như sau:
- Bố đẻ: Cụ Nguyễn Xuân D, sinh năm 1921, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cụ Nguyễn Xuân D đã chết vào ngày 11-01-2014.
- Mẹ đẻ: Cụ Nguyễn Thị L, sinh năm 1926, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cụ Nguyễn Thị L đã chết vào ngày 19-8-2009.
- Chị ruột: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1943, nơi cư trú cuối cùng: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Hiện không có thông tin về việc bà Nguyễn Thị T còn sống hay đã chết.
- Anh ruột: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1945, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Em ruột: Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1949, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Ông Nguyễn Ngọc P đã chết vào ngày 19-5-1995.
Như bà được nghe những người thân thích trong gia đình kể lại, cũng như trong các tài liệu là lý lịch của ông Nguyễn Văn L, lý lịch của ông Nguyễn Văn Q1 đã ghi thì thông tin cụ thể về bà Nguyễn Thị T như sau: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1943 tại xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Năm 1944 bà Nguyễn Thị T theo bố mẹ tản cư sang Lào, sau đó tiếp tục sang Thái Lan vào khoảng năm 1945. Đến năm 1960 bà Nguyễn Thị T đã cùng bố mẹ quay trở về Việt Nam và sinh sống tại địa chỉ: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Đến năm 1964 bà Nguyễn Thị T lại quay về Thái Lan sinh sống. Từ thời gian đó cho đến nay thì bà Nguyễn Thị T không quay về Việt Nam lần nào nữa. Do thời điểm bà Nguyễn Thị T bỏ sang Thái Lan thì thông tin, liên lạc còn lạc hậu; mặt khác hầu hết người Việt Nam di cư sang Thái Lan đều không có hộ khẩu cho nên trong gia đình không có thông tin gì về nơi cư trú cụ thể của bà Nguyễn Thị T tại Thái Lan. Ngay cả trong lý lịch của ông Nguyễn Văn Q1 cũng chỉ ghi bà Nguyễn Thị T đang ở tỉnh U-đôm, Thái Lan.
Từ sau khi bà Nguyễn Thị T bỏ sang Thái Lan vào năm 1964, trong gia đình không còn liên hệ gì với bà Nguyễn Thị T, cũng không biết thông tin gì về chồng con của bà Nguyễn Thị T. Ngay cả tại thời điểm cụ Nguyễn Thị L và cụ Nguyễn Xuân D chết thì cũng không thấy bà Nguyễn Thị T hoặc con cháu về dự đám tang.
Hiện tại bà Trần Thị Q đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị T là người đã chết. Ngoài ra không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề gì khác.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn L có lời khai xác nhận về hoàn cảnh gia đình, các mối quan hệ huyết thống và thời gian bà Nguyễn Thị T bỏ sang Thái Lan từ năm 1964 cho đến nay, không có tin tức, địa chỉ như lời khai của bà Trần Thị Q. Ông Nguyễn Văn L nhất trí đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị T là người đã chết.
3. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết đối với bà Nguyễn Thị T. Thông báo tìm kiếm bà Nguyễn Thị T được đăng trên Báo Công lý trong 03 số báo liên tiếp là 036 ngày 06-5-2022, 037 ngày 10-5-2022 và 038 ngày 13-5-2022; nhắn tìm bà Nguyễn Thị T trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng các ngày 11-5-2022, ngày 12-5-2022 và ngày 13-5-2022; đăng Thông báo tìm kiếm bà Nguyễn Thị T trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Nam Định từ ngày 27-4-2022. Đến nay đã hết thời gian 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì về bà Nguyễn Thị T.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định có quan điểm:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị căn cứ Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự để chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị Q, tuyên bố bà Nguyễn Thị T là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định nhận định:
Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự:
Bà Trần Thị Q làm đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị T là người đã chết là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị T có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định nên căn cứ khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
1.2. Về quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Trần Thị Q có chồng là ông Nguyễn Văn Q1 đã chết ngày 22-9-2010. Để giải quyết vấn đề thừa kế tài sản của ông Nguyễn Văn Q1 thì cần xác định những người thừa kế theo pháp luật của ông Nguyễn Văn Q1. Vì vậy, căn cứ Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bà Trần Thị Q là người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố bà Nguyễn Thị T là đã chết.
1.3. Về sự có mặt của các đương sự:
Người yêu cầu là bà Trần Thị Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn L đều đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành mở phiên họp vắng mặt người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung yêu cầu:
Xét thấy bà Nguyễn Thị T trước đây sinh sống cùng gia đình tại địa chỉ: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Từ năm 1964 bà Nguyễn Thị T đã bỏ đi sang Thái Lan sinh sống. Từ thời điểm đó cho đến nay, những người thân thích trong gia đình đã tìm kiếm nhưng không có tin tức, địa chỉ của bà Nguyễn Thị T; cũng không có thông tin về chồng con của bà Nguyễn Thị T. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của bà Nguyễn Thị T và thông báo tìm kiếm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không có tin tức xác thực về việc bà Nguyễn Thị T còn sống. Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Tòa án xác định thời điểm có tin tức cuối cùng về bà Nguyễn Thị T là ngày 01-01-1965. Đến nay bà Nguyễn Thị T đã biệt tích hơn 5 năm, vì vậy căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án sẽ chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Q về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị T là đã chết.
Do người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chính quyền địa phương đều không xác định được chính xác thời điểm bà Nguyễn Thị T bỏ đi biệt tích mà chỉ xác định được thời điểm có tin tức cuối cùng của bà Nguyễn Thị T là năm 1964, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 68 và điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án xác định ngày chết của bà Nguyễn Thị T là ngày 01-01-1970.
Căn cứ quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị T là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Nguyễn Thị T được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị T được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Nguyễn Thị T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự:
Bà Trần Thị Q là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự nên được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 68; điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71; Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; Điều 361; khoản 2 Điều 367; Điều 371, Điều 391, Điều 392 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Q.
Tuyên bố bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1943; nơi cư trú cuối cùng: Số 366 đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định là người đã chết.
Xác định ngày chết của bà Nguyễn Thị T là ngày 01-01-1970.
Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Nguyễn Thị T được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị T được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Nguyễn Thị T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Bà Trần Thị Q được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà Trần Thị Q, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quyết định này có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND thành phố Nam Định; - Chi cục THADS thành phố Nam Định; - UBND phường Bà Triệu, TP. Nam Định; - Đương sự; - Lưu HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Minh Tuấn |