vanban.org

Quyết định 15/2022/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 20/01/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tiến Ch.

[2] Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Tiến Ch phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2020/0006809 ngày 08 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Nguyễn Tiến Ch và ông Nguyễn Mạnh C"
  • Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tiến Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2022/QĐ-PTPhú Thọ, ngày 20 tháng 01 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Việt Tiến.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang; Ông Nguyễn Kim Ái.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 71/2021/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2021, Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã căn cứ vào các điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 14/2021/TLST-DS ngày 20/01/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến Ch, sinh năm 1963

Địa chỉ: Đội 12, xã Tr, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền của ông Ch: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1953

Địa chỉ: Đội 12, xã Tr, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1986

Địa chỉ: Khu 3, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

2. Ông Lê Tuấn A, sinh năm 1980

Địa chỉ: Khu 9, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền của ông C, ông A:

Công ty luật TNHH Tco

Địa chỉ: Tầng 7, số 31 V, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện: Ông Nguyễn Công H – Chức vụ: Giám đốc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Lưu Thị Đ, sinh năm 1932

2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959

3. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1970

Đều có địa chỉ: Đội 12, xã Tr, thành phố V, tỉnh Phú Thọ

4. Ủy ban nhân dân xã Tr, thành phố V, tỉnh Phú Thọ

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã.

Đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thu H1, sinh năm 1983 – Cán bộ tư pháp xã Tr.

Tại đơn kháng cáo sửa đổi, bổ sung ngày 25/10/2021, ông Ch không đồng ý với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do ông không nộp tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông cho rằng ông không tranh chấp đất với ai, diện tích đất đã có trong GCNQSDĐ đến nay không thay đổi nên không yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Yêu cầu Tòa án xem xét lại các buổi hòa giải không được thực hiện đầy đủ về thủ tục và thời gian; yêu cầu Tòa án xem xét lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật, có sự lừa dối, khi công chứng hợp đồng không có mặt ông nên hợp đồng vô hiệu.

XÉT THẤY:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Tiến Ch trong hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Ngày 30/3/2017, cụ Lưu Thị Đ - sinh năm 1932, bà Nguyễn Thị N - sinh năm 1959, ông Nguyễn Tiến Ch – sinh năm 1963, bà Nguyễn Thị K – sinh năm 1970, đều có địa chỉ tại: Đội 12, xã Tr, thành phố V đã ký hợp đồng mua bán đất nông nghiệp, theo đó chuyển nhượng cho ông Lê Tuấn A – sinh năm 1980, địa chỉ: Khu 9, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ 905m2 đất nông nghiệp (thuộc 03 thửa đất: thửa đất số 161, thửa đất số 208 và thửa đất số 8, tờ bản đồ số 24), tại xã Tr, V với giá là 181.000.000 đồng (72.000.000 đồng/sào). Hợp đồng được UBND xã Tr chứng thực.

Tại đơn khởi kiện, ông Nguyễn Tiến Ch yêu cầu ông C đại diện Công ty cổ phần xây dựng và dịch vụ thương mại P và ông Lê Tuấn A phải hỗ trợ cho ông số tiền là 360 triệu đồng/sào đất nông nghiệp thay vì số tiền như hợp đồng mua bán đất nông nghiệp đã ký; nếu không thì yêu cầu hủy hợp đồng vì cho rằng hợp đồng chuyển nhượng đất sai trái, có sự lừa dối. Năm 2016, ông Ch1 trưởng khu mời lên nhà văn hóa khu để thông báo thu hồi đất ruộng với giá 72 triệu đồng/sào, nhưng một số hộ lấy sau ông C lại tự tăng giá lên từ 72 triệu, 82 triệu, 90 triệu, 130 triệu, 180 triệu, 280 triệu đến 360 triệu đồng/sào. Khi lấy hợp đồng về thì không phải ông C đại diện bên thu hồi đất mà lại là ông Lê Tuấn A ký hợp đồng, ông không biết và không làm việc với ông Lê Tuấn A này.

Ngày 20/01/2021, Tòa án nhân dân thành phố V thụ lý vụ án. Ngày 01/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V ra Thông báo số 40/TB-TA cho ông Nguyễn Tiến Ch nộp 10.000.000đ (Mười triệu đồng) tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ngày 27/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V lập biên bản làm việc giải thích cho bà C là đại diện theo ủy quyền của ông Ch về việc phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Tuy nhiên văn bản thể hiện quan điểm của bà C là không yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, không nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Ngày 30/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố V ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vì lý do ông Nguyễn Tiến Ch không nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Điều 127 của Bộ luật dân sự quy định, khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như công tác thi hành án, khi giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì cần phải xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản để xác định giá trị quyền sử dụng đất, làm căn cứ giải quyết việc bồi thường khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thỏa thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử theo hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[2.3] Quá trình giải quyết vụ án, xét thấy cần thiết nên Tòa án nhân dân thành phố V đã quyết định tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản mà không cần theo yêu cầu của đương sự là đúng quy định tại khoản 2 Điều 97, Điều 101, Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong trường hợp này ông Nguyễn Tiến Ch là nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là đúng quy định tại Điều 156, Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do ông Ch không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố V đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì vậy, kháng cáo của ông Nguyễn Tiến Ch không có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hô ̣i đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tiến Ch. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 71/2021/QĐST - DS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông Ch phải chịu án phí phúc thẩm.

Căn cứ điểm a khoản 5, 6 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tiến Ch. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 71/2021/QĐST - DS ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

[2] Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Tiến Ch phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2020/0006809 ngày 08 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

[3] Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ