vanban.org

Quyết định 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 18/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trịnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trịnh T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trịnh T phạm tội "trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trịnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày: 18 - 4 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngân Hà

Ông Nguyễn Công Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Trịnh T, sinh ngày: 20/12/1984 tại: tỉnh Quảng Bình; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ dân phố BP, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn K, sinh năm: 1957 và bà: Lê Thị D, sinh năm: 1959; hiện ông, bà đang trú tại: Tổ dân phố BP, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; gia đình có 03 anh em, Nguyễn Trịnh T là con thứ hai của gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 15/11/2021 đến nay tại Tổ dân phố BP, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt tại phiên tòa.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trịnh T (bị cáo là người bị tâm thần

1

phân liệt thể paranoid): Bà Nguyễn Thị Thiếu L, sinh năm 1958 - Luật sư Trung tâm tư vấn pháp luật Đoàn luật sư tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trịnh T (bị cáo là người bị tâm thần phân liệt thể paranoid): Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1957 (bố đẻ của bị cáo Nguyễn Trịnh T); địa chỉ: Tổ dân phố BP, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Trường H, sinh ngày 02/10/1984, địa chỉ: Tổ dân phố DB2, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt có lý do (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/11/2021, Nguyễn Trịnh T đi bộ một mình, khi đến nhà anh Nguyễn Trường H ở Tổ dân phố DB2, phường Đ, thành phố H phát hiện cửa cổng mở không khóa, quan sát thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen BKS: 73G1 - 170.11 đang để trước sân nhà, không có người trông giữ. Nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, T đi vào sân nhà dắt xe đi theo hướng đường ĐHT, phường Đ. Khi đến trước trước trường Mầm non Đ thì bị lực lượng Công an phường Đ phát hiện thu giữ tang vật.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL - HĐĐG ngày 15/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen BKS: 73G1 - 170.11, số khung: S9A0GY077767, số máy: 1S9A077783, xe đã qua sử dụng trị giá 25.000.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ và trả lại cho anh Nguyễn Trường H xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 73G1 - 170.11.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới thu thập tài liệu xác định Nguyễn Trịnh T có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần. Ngày 21/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới ra Quyết định trưng cầu số 256 về việc giám định Pháp y tâm thần đối với Nguyễn Trịnh T. Tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần số 120/KLGĐ ngày 24/01/2022 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền Trung: Trước thời điểm gây án, tại thời điểm gây án, thời điểm hiện tại kết luận:

- Kết luận về y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid tiến triển liên tục (F20.00).

2

- Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Trường H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSĐH-KT ngày 22 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Nguyễn Trịnh Tiên ra trước Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX, xét xử bị cáo Nguyễn Trịnh T theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; cần áp dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ cho bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranid bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, q, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Trịnh T 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi bốn) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng.

Vật chứng vụ án: Không.

Trách nhiệm dân sự: Không.

Án phí HSST bị cáo Nguyễn Trịnh T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trịnh T phát biểu: Theo cáo trạng và qua diễn biến tại phiên tòa, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh trên là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét về hoàn cảnh gia đình, sức khỏe của bị cáo: Đây là vụ án trộm cắp thông thường. Bị cáo là người bị bệnh tâm thần phân liệt hạn chế năng lực, hành vi. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình; bị cáo bị tâm thần phân liệt và hiện nay đang uống thuốc, bố mẹ già yếu, bị cáo và gia đình đã trả lại tài sản cho bị hại, bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do đó, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 xử cho bị cáo được cải tạo không giam giữ.

3

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Do T bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi nên xin HĐXX cho T hưởng mức án nhẹ để T có thời gian cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội.

Quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trịnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tư cách tham gia tố tụng và sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại anh Nguyễn Trường H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại hồ sơ đã thể hiện rõ lời khai của bị hại, do đó căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại anh Nguyễn Trường H.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Trịnh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, địa điểm, số lượng tài sản và quá trình diễn biến phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 19 giờ 30 phút gày 12/11/2021, tại Tổ dân phố DB2, phường Đ, thành phố H, lợi dụng sơ sở của bị hại vì đó là khoảng thời gian các gia đình tập trung sinh hoạt trong nhà nên lỏng lẻo trong quản lý tài sản Nguyễn Trịnh T có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS: 73G1 - 170.11 của anh Nguyễn Trường H trị giá 25.000.000 đồng (Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL - HĐĐG ngày 15/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đồng Hới).

4

Hành vi của Nguyễn Trịnh T phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trịnh T là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Đồng Hới, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam tư lợi cá nhân nên vẫn bất chấp hậu quả, liều lĩnh thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với mức độ nguy hiểm mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Trịnh T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Trịnh T là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình (Tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần số 120/KLGĐ ngày 24/01/2022 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền Trung: Trước thời điểm gây án, tại thời điểm gây án, thời điểm hiện tại kết luận: Kết luận về y học: Tâm thần phân liệt thể Paranoid tiến triển liên tục (F20.00). Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi); bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa đề nghị HĐXX xét xử cho bị cáo mức cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 BLHS. HĐXX thấy rằng, hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Trịnh T với tổng giá trị tài sản là 25.000.000 đồng, số tiền này chiếm ½ giá trị tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Đo đó, không áp dụng để xử phạt bị cáo mức cải tạo không giam giữ, nên mức hình phạt mà người bào chữa đưa ra là không được chấp nhận.

Tuy nhiên, tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Xét bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ

5

trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, cùng gia đình thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo vừa lao động để chăm lo, nuôi sống bản thân và vừa chữa bệnh, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015. Xét thấy, bị cáo không có công việc, không có thu nhập, hiện đang bị bệnh nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ và trả lại cho anh Nguyễn Trường H xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen BKS: 73G1 - 170.11, số khung: S9A0GY077767, số máy: 1S9A077783, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong tại Biên bản về việc trả lại đồ vật tài liệu ngày 30/11/2021. Anh Nguyễn Trường H đã nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Trường H đã nhận lại đúng, đủ tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo Nguyễn Trịnh T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trịnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trịnh T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/4/2022.

6

Giao bị cáo Nguyễn Trịnh T cho UBND phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Trịnh T phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (18/4/2022). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ