vanban.org

Quyết định 15/2021/QĐHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: * Người khởi kiện: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn Bụt, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Bàn Văn S thống nhất thuận tình ly hôn. Về con chung: Chị N và anh S xác định có ba con chung là Bàn Văn G, sinh ngày 15/10/2008; Bàn Văn K, sinh ngày 15/3/2010 và cháu Bàn Thị Thu H, sinh ngày 21/5/2012. Chị N và anh S thống nhất thoả thuận, giao cả ba ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Số: 15/2021/QĐHG - HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: * Người khởi kiện: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn Bụt, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2021/QĐHG - HNGĐYên Sơn, ngày 23 tháng 8 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH TUYÊN QUANG:

Thẩm phán ra quyết định: Ông Nguyễn Văn Toàn. Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ các Điều 32, 33, 34, 35, 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Căn cứ vào Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 05 tháng 8 năm 2021 về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc ly hôn, tranh chấp con chung giữa: * Người khởi kiện: Chị Hoàng Thị Nhung, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn Bụt, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. * Người bị kiện: Anh Bàn Văn S, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn Bụt, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án ngày 06/8/2021.

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi nhận trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào có ý kiến thay đổi về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: * Người khởi kiện: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn Bụt, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. * Người bị kiện: Anh Bàn Văn S, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn Bụt, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. 2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Bàn Văn S thống nhất thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Chị N và anh S xác định có ba con chung là Bàn Văn G, sinh ngày 15/10/2008; Bàn Văn K, sinh ngày 15/3/2010 và cháu Bàn Thị Thu H, sinh ngày 21/5/2012. Chị N và anh S thống nhất thoả thuận, giao cả ba cháu là Bàn Văn G, sinh ngày 15/10/2008; Bàn Văn K, sinh ngày 15/3/2010 và cháu Bàn Thị Thu H, sinh ngày 21/5/2012 cho chị Hoàng Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng con chung và được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung: Các bên xác định không có. Về vay nợ chung: Các bên đều xác định không có. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. 5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án./.

Cỡ chữ