vanban.org

Quyết định 15/2021/QĐ-TA

TAND TX. Cửa Lò, tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/02/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th ( Th Ve), sinh ngày 10/11/1987.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 18/6/2021). Địa điểm: Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện tỉnh Ngh A Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "DVT cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th ( Th Ve), sinh ngày 10/11/1987.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CỬA LÒ - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2021/QĐ-TAC L, ngày 09 tháng 8 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ - TỈNH NGHỆ AN

Với Th phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên họp: bà Ng Th Tr Gi.

Thư ký phiên họp: Bà Ph Th Th L.

Ngày 09 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C L, tỉnh Ngh A tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 474/QĐ - TA ngày 02 tháng 8 năm 2021 đối với:

D V Th, tên gọi khác: Th V; sinh ngày 10/11/1987; Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh;Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: không.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối 2, phường Th Th, thị xã C L, tỉnh Ngh A.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông: D V V, Đã chết

Con bà: Ng Th H, sinh năm 1961.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án: Không.

Nhân thân: - Ngày 27/10/2004 bị Tòa án nhân dân thị xã C L, tỉnh Ngh A xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 15 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 29/06/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã C L, tỉnh Ngh A xử phạt 19 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 29/11/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã C L, tỉnh Ngh A áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 3496 với thời hạn 24 tháng.

- Ngày 12/02/2018 bị công an thị xã C L, tỉnh Ngh A xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Ngày 17/11/2018 bị UBND phường Th Th ra quyết định số 63 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường và quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình với thời hạn 06 tháng.

Tiền sự: Ngày 20/3/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã C L ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng.

Anh D V Th hiện đang bị quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện Th phố V, tỉnh Ngh A từ ngày 18/6/2021 đến nay.

(Người bị đề nghị có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Ng Đ Gi – Phó trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội thị xã C L, tỉnh Ngh A.

2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Ph Th V A – Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã C L, tỉnh Ngh A.

NHẬN THẤY

Theo đề nghị số 41/LĐTBXH ngày 23/7/2021 của Phòng Lao động thương binh và xã hội thị xã C L đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th có nội dung :

Ngày 17/6/2021, D V Th đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phường Th Th, thị xã C L, tỉnh Ngh A. Ngày 23/6/2021, theo Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện Th phố V, tỉnh Ngh A thì D V Th có nghiện chất ma túy (loại ma túy sử dụng là Methamphetamine).

D V Th có hộ khẩu và trú tại khối 2, phường Th Th, thị xã C L, tỉnh Ngh A, thuộc diện có nơi cư trú ổn định. Tuy nhiên trong thời gian làm hồ sơ chuyển Tòa án xem xét quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bản thân D V Th cùng đại diện gia đình không cam kết chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật, không tự ý bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Mẹ đẻ là bà Ng Th H có đơn yêu cầu cho D V Th được đi cai nghiện một thời gian để trở Th người có ích cho xã hội.

Bản thân D V Th đã bị Bị Tòa án nhân dân thị xã C L ra quyết định số 10 ngày 20/3/2020 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 03 tháng 4 năm 2021 về địa phương lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.

Hiện nay, D V Th đang bị quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện Th phố V, tỉnh Ngh A từ ngày 18/6/2021 theo Quyết định số 127/QĐ-UBND ngày 18/63/2021 của UBND phường Th Th.

Căn cứ vào thông báo kết quả kiểm tra tính pháp lý của phòng tư pháp, Biên bản họp tổ tư vấn thị xã thẩm định hồ sơ xét đề nghị đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động thương binh và xã hội thị xã C L; xét thấy D V Th đủ điều kiện theo quy định tại Điều 95, 96; Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3; Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th từ 18 đến 24 tháng.

Tại phiên họp hôm nay đại diện Phòng Lao động thương binh và xã hội thị xã C L giữ nguyên ý kiến và đề nghị Tòa án nhân dân thị xã C L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th trong thời hạn 18 - 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện tỉnh Ngh A.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Quá trình lập hồ sơ theo đúng thời hiệu, thẩm quyền, trình tự, thủ tục; việc giao nhận, thụ lý hồ sơ; phân công Thẩm phán xem xét giải quyết; quyết định mở phiên họp và trình tự tại phiên họp được thực hiện theo đúng các quy định tại Điều 6 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 11, Điều 16, Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân. Căn cứ hành vi vi phạm pháp luật hành chính và nhân thân D V Th, đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th với thời hạn từ 18 đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện tỉnh Ngh A.

Người bị đề nghị vắng mặt không có ý kiến gì.

XÉT THẤY

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đã được xem xét tại phiên họp; căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của cơ quan đề nghị; ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp xét thấy:

- Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: D V Th thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 luật xử lý vi phạm hành chính, điểm b khoản 2 mục I Hướng dẫn liên ngành số 2171/ HDLN ngày 03 tháng 8 năm 2016; Khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016.

Việc lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th được thực hiện theo trình tự thủ tục pháp luật quy định, trong đó thể hiện bản tóm tắt lý lịch của đối tượng, tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma tuý hiện tại của người bị đề nghị; tài liệu chứng minh người bị đề nghị có nơi cư trú ổn định; Bản tường trình của người bị đề nghị; Văn bản thông báo cho D V Th về việc lập hồ sơ; Văn bản của Trưởng phòng Tư pháp thị xã C L về kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ; Văn bản của Trưởng phòng Lao động-Thương binh- Xã hội thị xã C L về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th.

Căn cứ vào Điều 96, 103 luật xử lý vi phạm hành chính điểm d khoản 2 mục I Hướng dẫn liên ngành số 2171/ HDLN ngày 03 tháng 8 năm 2016; Khoản 1 Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ thì hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng D V Th được lập hoàn toàn hợp pháp và tuân thủ các quy định của pháp luật.

- Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm của D V Th: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của D V Th đã vi phạm Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; vi phạm quy định về sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy; làm ảnh hưởng xấu trực tiếp đến sức khỏe, cuộc sống bình thường của bản thân, làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương; là tiền đề phát sinh tội phạm liên quan đến chất ma túy và các loại tội phạm nguy hiểm khác tại địa phương nói riêng và toàn xã hội nói chung.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của D V Th: Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ thì D V Th bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2010. Bản thân D V Th có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân thị xã C L xét xử hai lần về Tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân thị xã C L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc năm 2013; năm 2018 bị Công an thị xã C L xử lý vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 20/3/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã C L ra quyết định số 10 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, Th chấp hành xong ngày 03 tháng 4 năm 2021. Tuy nhiên chưa hết thời hạn hai năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định Th lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 7, Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên cũng xét, sau khi vi phạm anh D V Th đã Th thật hối lỗi, khai báo Th khẩn nên được áp tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì vậy, để giúp D V Th cai nghiện, phát triển lành mạnh và trở Th công dân có ích cho xã hội thì cần cách ly Th ra khỏi cộng đồng và áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Từ những phân tích, đánh giá về tính hợp pháp của hồ sơ; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của D V Th, ý kiến của những ngư-ời tham gia phiên họp, thấy rằng việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th với thời hạn 20 tháng là cần thiết và phù hợp.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 105; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; d khoản 2 mục I Hướng dẫn liên ngành số 2171/ HDLN ngày 03 tháng 8 năm 2016; Khoản 1 Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; Khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 ; Điều 20, 22, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D V Th ( Th Ve), sinh ngày 10/11/1987.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 18/6/2021).

Địa điểm: Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện tỉnh Ngh A

Giao Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện tỉnh Ngh A tiếp nhận và quản lý đối tượng D V Th.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại; Phòng Lao động thương binh và xã hội thị xã C L có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thị xã C L có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động thương binh và xã hội thị xã C L; Cơ quan Công an thị xã C L, tỉnh Ngh A; Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện Th phố V, tỉnh Ngh A; Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện tỉnh Ngh A.

Cỡ chữ