vanban.org

Quyết định 15/2020/QĐ-TA

TAND huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 28/08/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê N.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Trà Vinh, tại ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cai Nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê N.
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 1 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ CÚ
TỈNH TRÀ VINH
Số: 15/2020/QĐ-TA
Trà Cú, ngày 28 tháng 8 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Trần Văn Tấn;

2. Thư ký phiên họp: Bà Tiết Thị Long.

Ngày 28 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 14/QĐ-TA ngày 20 tháng 8 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Lê N, sinh năm 1990; giới tính: Nam.

Chứng minh nhân dân số: 334792***, ngày cấp: 15/09/2009; nơi cấp: Công an tỉnh Trà Vinh.

Dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 7/12.

Nơi cư trú: ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Nghề nghiệp: làm thuê.

Tiền án: không có.

Tiền sự:

- Ngày 27/10/2019 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 28/10/2019 bị Công an xã N kiểm tra phát hiện và lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng, chưa chấp hành;

- Ngày 03/3/2020 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 06/3/2020 bị Công an xã N lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng, chưa chấp hành;

- Ngày 16/4/2020 tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 20/4/2020 bị Công an xã N lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị xác định tình trạng nghiện tại Trung tâm y tế huyện T. Ngày 20/4/2020 Trung tâm y tế huyện T có phiếu trả lời kết quả là Lê N có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng Amphetamine;

- Ngày 07/5/2020 Ủy ban nhân dân xã N ra Quyết định số 82/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời gian là 03 tháng;

- Ngày 27/7/2020 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 30/7/2020 bị Công an xã N lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị xác định tình trạng nghiện tại Trung tâm y tế huyện T. Ngày 31/7/2020 Trung tâm y tế huyện T có phiếu trả lời kết quả là Lê N có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng Amphetamine;

- Ngày 30/7/2020 Ủy ban nhân dân xã N ra Quyết định số 103/QĐ-UBND về việc chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại xã;

- Ngày 31/7/2020 Công an xã N Thông báo số 73/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Con ông Lê N, sinh năm 1966 và bà Thạch Thị Th, sinh năm 1965.

Lê N vắng mặt tại phiên họp (có đơn xin vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy, Phó Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp: Bà Huỳnh Đoàn Tố Quyên - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trà Cú đối với Lê N đã nhiều lần có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể:

- Ngày 27/10/2019 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 28/10/2019 bị Công an xã N kiểm tra phát hiện và lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng, chưa chấp hành;

- Ngày 03/3/2020 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 06/3/2020 bị Công an xã N lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng, chưa chấp hành;

- Ngày 16/4/2020 tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 20/4/2020 bị Công an xã N lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị xác định tình trạng nghiện tại Trung tâm y tế huyện T. Ngày 20/4/2020 Trung tâm y tế huyện T có phiếu trả lời kết quả là Lê N có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng Amphetamine;

- Ngày 07/5/2020 Ủy ban nhân dân xã N ra Quyết định số 82/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời gian là 03 tháng;

- Ngày 27/7/2020 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 30/7/2020 bị Công an xã N lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị xác định tình trạng nghiện tại Trung tâm y tế huyện T. Ngày 31/7/2020 Trung tâm y tế huyện T có phiếu trả lời kết quả là Lê N có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng Amphetamine;

- Ngày 30/7/2020 Ủy ban nhân dân xã N ra Quyết định số 103/QĐ-UBND về việc chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại xã;

- Ngày 31/7/2020 Công an xã N Thông báo số 73/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp, bà Nguyễn Thị Xuân Thùy là người đại diện của cơ quan đề nghị trình bày ý kiến giữ nguyên đề nghị việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê N.

Người bị đề nghị Lê N vắng mặt tại phiên họp nhưng có đơn xin vắng mặt phiên họp, có bản tường trình: Thừa nhận đã bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ cuối năm 2019, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi nghiện ma túy nhưng đến ngày 27/7/2020 tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an xã N lập hồ sơ đề nghị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Ngoài ra theo hồ sơ đề nghị áp dụng của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trà Cú đề nghị việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê N là đúng quy định, đề nghị chủ tọa phiên họp áp dụng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính tại Điều 95, 96, 103, 104 để xem xét chấp nhận.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa.

Về thời hiệu và đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng quy định tại Điều 6 và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành theo Nghị định của Chính phủ.

Tại phiên họp Lê N vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt phiên họp. Theo hướng dẫn tại khoản 2, Điều 19 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và khoản 8, Điều 1 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt người bị đề nghị.

Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trà Cú về áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê N cùng với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, bản tường trình cho thấy: Lê N là đối tượng nghiện ma túy từ cuối năm 2019 đã bị Công an xã N xử phạt vi phạm hành chính hai lần, sau đó tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an xã N lập hồ sơ vi phạm, đề nghị xác định tình trạng nghiện và bị áp dụng biện pháp quản lý, giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày 07/5/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 07/5/2020 nhưng chỉ chấp hành được 02 tháng 22 ngày, đến ngày 27/7/2020 tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an xã N lập hồ sơ đề nghị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều này chứng tỏ, việc xử phạt hành chính của chính quyền địa phương là không đủ tác dụng giáo dục đối với Lê N.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ chứng minh tình trạng nghiện ma túy của Lê N theo phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20/4/2020 và ngày 31/7/2020 của Trung tâm y tế huyện T xác định Lê N nghiện chất ma túy là Amphetamine; Ngày 27/7/2020 tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bản thân Lê N, cũng thừa nhận có sử dụng ma túy nhiều lần và bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trà Cú đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê N để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, góp phần phòng chống tội phạm là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 95; khoản 1, Điều 96; Điều 103; Điều 104 và khoản 2, Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ các Điều 3; Điều 17; Điều 19; Điều 22; Điều 23 và Điều 31 của Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê N.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Trà Vinh, tại ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú có quyền kháng nghị, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Trà Cú có quyền kiến nghị. Anh Lê N có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; Cơ quan tổ chức có liên quan và anh Lê N có trách nhiệm thi hành quyết định này.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ