vanban.org

Quyết định 15/2019/QĐ-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 28/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Long Xuân L

Tuyên bố bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng là đã chết. Ngày chết của bà Nguyễn Thị H được xác định là ngày 02 tháng 01 năm 1995 (ngày hai tháng một năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Long Xuân L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Long Xuân L
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2019/QĐ-STCao Bằng, ngày 28 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Thư ký phiên họp: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên họp: Bà Trương Thị Nha - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 23/2019/TLST-VDS ngày 03 tháng 4 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số ngày 17/5/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Long Xuân L

Địa chỉ: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Người bị yêu cầu:

Bà Nguyễn Thị H:

Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Long Xuân H;

Địa chỉ: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

2. Chị Long Thị H;

Địa chỉ: Thôn Trung Hòa, xã Xuân Phú, huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và tại các bản tự khai; người yêu cầu là ông Long Xuân L yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ ông là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng là đã chết vì từ sau năm 1989 bà H đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, gia đình đã cố gắng tìm kiếm bà H nhưng không có tin tức bà H còn sống hay đã chết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Long Thị H và anh Long Xuân H trong đơn đề nghị đề ngày 14/5/2019 thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Long Xuân L tuyên bố bà Nguyễn Thị H sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng là đã chết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C: Tòa án nhân dân thành phố C thụ lý yêu cầu của ông Long Xuân L tuyên bố Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng là đã chết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định, đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, căn cứ đơn yêu cầu ngày 13 tháng 3 năm 2019 của ông Long Xuân L đề nghị tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Long Xuân L tuyên bố bà Nguyễn Thị H là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố C nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Long Xuân L yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là yêu cầu tuyên bố một người là đã chết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng;

Về người tham gia tố tụng và sự có mặt của các đương sự:

Ngày 28/5/2019 người yêu cầu ông Long Xuân L có mặt tại tòa án đúng thời gian quy định. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Long Thị H và anh Long Xuân H gửi đơn đề nghị giải quyết việc dân sự vắng mặt đề ngày 14/5/2019 và thể hiện vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết như ban đầu của ông Long Xuân L. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết: ông Long Xuân L và vợ là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, có tất cả 03 người con gồm: anh Long Xuân Hiến (đã chết năm 2010), chị Long Thị H và anh Long Xuân H. Bố và mẹ của bà H đã mất từ khi bà H còn nhỏ, bà H cũng không có anh chị em.

Từ sau năm năm 1989, bà Nguyễn Thị H đã bỏ đi khỏi địa phương không rõ đi đâu. Gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức của bà H.

Ngày 26/6/2013 ông Long Xuân L có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C tuyên bố bà H mất tích, Tòa án đã đăng Báo công lý và Đài truyền hình 03 số liên tiếp nhưng không có kết quả. Do đó, ngày 21/11/2014 Tòa án nhân dân thành phố C đã ra Quyết định số 33/2014/QĐST-DSST tuyên bố bà Nguyễn Thị H sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng mất tích từ năm 1989.

Ngày 13/3/2019 ông Long Xuân L gửi đơn lên Tòa án nhân dân thành phố C yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng là đã chết. Ngày 26/4/2019, Tòa án đã tiến hành xác minh đối với tổ trưởng tổ 06 và cảnh sát khu vực tại phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng kết quả cho thấy: kể từ ngày Tòa án nhân dân thành phố C tuyên bố mất tích cho tới nay bà Nguyễn Thị H không quay trở về địa phương và không có tin tức gì. Kể từ thời điểm Tòa án nhân dân thành phố C ra quyết định tuyên bố bà Nguyễn Thị H mất tích cho tới nay đã quá 03 năm mà các đương sự và Tòa án không nhận được tin tức gì của bà Nguyễn Thị H. Xét thấy đã có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Long Xuân L về việc yêu cầu tuyên bố chết đối với bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Xét thấy, thời điểm biết được tin tức của bà H là năm 1989 mà không xác định được ngày, tháng. Căn cứ điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71, Bộ luật dân sự năm 2015, thời điểm biết được tin tức cuối cùng của bà H được tính từ ngày 01/01/1990 nên xác định ngày chết của bà H là ngày 02/01/1995.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì người yêu cầu ông Long Xuân L được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự do ông Long Xuân L là người cao tuổi.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 48, khoản 1 Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, khoản 1 Điều 391, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 68, Điều 71, Điều 72 Bộ Luật Dân sự 2015;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Long Xuân L

Tuyên bố bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Tổ 06, phường Hòa Chung, thành phố C, tỉnh Cao Bằng là đã chết.

Ngày chết của bà Nguyễn Thị H được xác định là ngày 02 tháng 01 năm 1995 (ngày hai tháng một năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm).

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông Long Xuân L được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự.

Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ