- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T, sinh năm 1995, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 18, khóm M, phường A, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ 18, khóm M, phường A, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 147/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tâm.
2. Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Ngọc Thảo.
Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 154/QĐ-TA ngày 02 tháng 11 năm 2018 đối với:
Lê Văn T, sinh năm 1995; Giới tính: Nam;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 18, khóm M, phường A, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ 18, khóm M, phường A, thành phố C, tỉnh An Giang;
Nghề nghiệp: Không;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Đạo phật;
Trình độ văn hóa: Không;
Con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim H;
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C đại diện theo ủy quyền.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Thành – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 05/4/2018, Lê Văn T bị Công an phường A mời làm việc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa T đi xét nghiệm ma túy với kết quả dương tính. Đồng thời, Công an phường A lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T.
Ngày 05/4/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ban hành Quyết định số 151/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Ngày 05/5/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ban hành Quyết định số 200/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với T với thời gian giáo dục 03 tháng, từ ngày 05/5/2018 đến 05/8/2018.
Ngày 06/8/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ban hành Giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại phường số 289/GCN-UBND đối với Lê Văn T.
Ngày 31/8/2018 T tiếp tục sử dụng chất ma túy nên Công an phường A đưa T đi xét nghiệm, kết quả dương tính. Công an phường A tiếp tục lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T.
Ngày 31/8/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ban hành Quyết định số 325/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Ngày 30/10/2018, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố C có văn bản số 139/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời hạn tập trung từ 18 đến 24 tháng.
Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố C giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T với thời gian tập trung cai nghiện từ 18 đến 24 tháng.
T thừa nhận có sử dụng ma túy và bị Công an phường A phát hiện đưa đi xét nghiệm với kết quả dương tính và lập biên bản vi phạm.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:
Từ khi thụ lý cũng như tại phiên họp, những người tham gia phiên họp đã thực hiện đúng quy định tại Điều 18 Pháp lệnh số 09 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
T đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 31/8/2018. Ngoài ra, trước đó T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố C đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 24 tháng là phù hợp pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Đề nghị Toà án nhân dân thành phố C chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
XÉT THẤY:
Lời khai nhận của Lê Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với kết quả xét nghiệm và biên bản vi phạm hành chính do Công an phường A lập ngày 31/8/2018. T đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời trước đó T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận. Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân, T thành khẩn khai báo về hành vi đã sử dụng trái phép chất ma túy; có nơi cư trú ổn định nên có xem xét trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 110, khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T, sinh năm 1995, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 18, khóm M, phường A, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ 18, khóm M, phường A, thành phố C, tỉnh An Giang.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C; kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Thời hạn khiếu nại của Lê Văn T là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố C chủ trì phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố C đưa Lê Văn T vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐ, TB, XH TP. C; - Ủy ban nhân dân phường A; - Công an nhân dân phường A; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy - TAG; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố; - Đội CSĐTTPMT-CAND TP. C; - Công an nhân dân TP. C; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thanh Tâm |