vanban.org

Quyết định 146/QĐ-TA

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 13/11/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị D, sinh năm 1985, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 07, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ 07, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C; kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị D, sinh năm 1985, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 07, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ 07, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 146/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tâm.

2. Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Ngọc Thảo.

Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 153/QĐ-TA ngày 02 tháng 11 năm 2018 đối với:

Đối với: Nguyễn Thị D, sinh năm 1985;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 07, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ 07, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.

Nghề nghiệp: Không;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Đạo phật;

Trình độ văn hóa: 2/12;

Con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị D;

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C đại diện theo ủy quyền.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Thành – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 13/11/2016, Nguyễn Thị D bị Công an phường N mời làm việc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa D đi xét nghiệm ma túy với kết quả dương tính. Đồng thời, Công an phường N lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với D.

Ngày 13/11/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định số 463/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D.

Ngày 04/01/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định số 03/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với D với thời gian giáo dục 03 tháng, từ ngày 04/01/2017 đến 04/04/2017.

Ngày 04/4/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại phường số 01/GCN-UBND đối với Nguyễn Thị D.

Ngày 28/9/2018 D tiếp tục sử dụng chất ma túy nên Công an phường N đưa D đi xét nghiệm, kết quả dương tính. Công an phường N tiếp tục lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với D.

Ngày 28/9/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định số 337/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D.

Ngày 30/10/2018, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố C có văn bản số 138/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D với thời hạn tập trung từ 18 đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố C giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị D với thời gian tập trung cai nghiện từ 18 đến 24 tháng.

D thừa nhận có sử dụng ma túy và bị Công an phường N phát hiện đưa đi xét nghiệm với kết quả dương tính và lập biên bản vi phạm.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:

Từ khi thụ lý cũng như tại phiên họp, những người tham gia phiên họp đã thực hiện đúng quy định tại Điều 18 Pháp lệnh số 09 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

D đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 28/9/2018. Ngoài ra, trước đó D đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố C đề nghị đưa D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 24 tháng là phù hợp pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Đề nghị Toà án nhân dân thành phố C chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D.

XÉT THẤY:

Lời khai nhận của Nguyễn Thị D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với kết quả xét nghiệm và biên bản vi phạm hành chính do Công an phường N lập ngày 28/9/2018. D đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời trước đó D đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C đề nghị đưa D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận. Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân, D thành khẩn khai báo về hành vi đã sử dụng trái phép chất ma túy; có nơi cư trú ổn định nên có xem xét trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với D.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 110, khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị D, sinh năm 1985, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 07, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ 07, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố C; kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Thời hạn khiếu nại của Nguyễn Thị D là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố C chủ trì phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố C đưa Nguyễn Thị D vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

Cỡ chữ