vanban.org

Quyết định 146/2026/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Xuân H về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Đỗ Thị K, sinh năm 1936; nơi thường trú cuối cùng: Khối phố N, phường Q, thành phố Đ.

Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Đỗ Thị K, được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà Đỗ Thị K, được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế (nếu có). Lệ phí việc dân sự: Ông Nguyễn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Đỗ Thị K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Xuân H về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Đỗ Thị K, sinh năm 1936; nơi thường trú cuối cùng: Khối phố N, phường Q, thành phố Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 146 /2026/QĐDS-STĐà Nẵng, ngày 13 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Thị Huỳnh Lý.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Trịnh Hồng Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở, Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 53/2025/TLST- DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2026/QĐST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố Đ. Có mặt.

- Người liên quan đến việc yêu cầu: Bà Đỗ Thị K, sinh năm 1936; nơi thường trú cuối cùng: Khối phố N, phường Q, thành phố Đ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Nguyễn Xuân H, hiện tại ở thôn K, xã T, thành phố Đ, có mối quan hệ là cháu với bà Đỗ Thị K và gọi bà Đỗ Thị K là dì ruột ở tại thôn N, phường Q; thành phố Đ. Gia đình dì của ông H gồm có: chồng là ông Nguyễn X, sinh năm 1935 (chết), và 02 người con trai là ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 (chết), ông Nguyễn C, sinh năm 1973 (chết); ông T và ông C đều không có vợ, con. Những người trong gia đình bà K nay đã chết, còn lại một mình bà K. Tháng 06 năm 2006, bà K lâm bệnh, bỏ nhà ra đi. Đến năm 2021, biệt tăm biệt tích. Trong thời gian này, gia đình có tìm kiếm nhưng cũng không có tung tích gì. Vậy nên gia đình làm đơn trình lên các cơ quan thông tin báo chí, Đài truyền hình và gửi đơn yêu cầu lên Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Q để yêu cầu tuyên bố bà K mất tích. Đến ngày 02/06/2022, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Q đã ra quyết định số 03/2022 Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Đỗ Thị K. Đến nay, sau 03 năm kể từ ngày Tòa án có quyết định trên, vẫn không có thông tin xác thực của bà K là còn sống. Để giải quyết việc gia đình, ông H làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với bà Đỗ Thị K. Ngoài ra ông H không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên họp, đại diện viện kiểm sát đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của ông H, tuyên bố bà Đỗ Thị K là đã chết, ngày chết là ngày 03/6/2025, quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Đỗ Thị K được xác định tại quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng nhận định:

Do ông Nguyễn Xuân H và bà Đỗ Thị K có quan hệ dì cháu ruột hợp pháp nên ông H có quyền yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà K. Bà Đỗ Thị K, sinh năm 1936; nơi thường trú cuối cùng: Khối phố N, phường Q, thành phố Đ nên xác định đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đà Nẵng theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tháng 06 năm 2006, bà K lâm bệnh, bỏ nhà ra đi. Đến năm 2021, biệt tăm biệt tích. Trong thời gian này, gia đình có tìm kiếm nhưng cũng không có tung tích gì. Vậy nên gia đình làm đơn trình lên các cơ quan thông tin báo chí, Đài truyền hình và gửi đơn yêu cầu lên Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Q để yêu cầu tuyên bố bà K mất tích. Đến ngày 02/06/2022, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Q đã ra quyết định số 03/2022 Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích là bà Đỗ Thị K. Đến nay, sau 03 năm kể từ ngày Tòa án có quyết định trên, vẫn không có thông tin xác thực của bà K là còn sống theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy ông H làm đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà K là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.

Xác định thời gian chết của bà Đỗ Thị K căn cứ vào khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự, ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết được xác định là ngày đầu tiên kế tiếp ngày kết thúc thời hạn của từng trường hợp nêu trên tại khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự. Bà Đỗ Thị K bị tuyên bố mất tích vào ngày 02/6/2022, sau ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích, không có tin tức xác thực là còn sống nên ngày chết của bà Đỗ Thị K xác định là ngày 03/6/2025.

Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà K được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà K được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 371; Điều 372 và Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 71, 72 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Xuân H về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Đỗ Thị K, sinh năm 1936; nơi thường trú cuối cùng: Khối phố N, phường Q, thành phố Đ. Tuyên bố bà Đỗ Thị K chết ngày 03/6/2025.

2. Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Đỗ Thị K, được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của bà Đỗ Thị K, được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế (nếu có).

3. Lệ phí việc dân sự: Ông Nguyễn Xuân H là người trên 60 tuổi, có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (13/3/2026).

Cỡ chữ