- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Trần Thị Lan ly hôn với ông Nguyễn Văn Sinh"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:146/2019/QĐST-HNGĐ | Chư S, ngày 02 tháng 12 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 200/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2019, giữa:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1975.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1977.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố xx, thị trấn Chư S, huyện Chư S, tỉnh Gia L
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 86 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 22 tháng 11 năm 2019.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 22 tháng 11 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Văn S.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
2.1. Về con chung:
Các đương sự cùng thống nhất và phù hợp với nguyện vọng của các con. Giao các cháu Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 12/12/2009 và cháu Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh ngày 07/10/2011 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 16/6/2001 đã trưởng thành và tự lập được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
2.2. Về án phí: Các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên được giảm 50% án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, chị Trần Thị L và anh Nguyễn Văn S mỗi người phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị L tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí do đó án phí mà chị L phải nộp là 150.000 đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước, được trừ vào 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số 0002655 ngày 29/10/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chư S, tỉnh Gia L. Hoàn trả cho chị Trần Thị L 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Quyết định có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự (02 bản); - VKSND huyện Chư S (02 bản); - UBND xã Hải S, H. Hải L, T. Quảng T (01 bản); - Lưu hồ sơ (01 bản); | THẨM PHÁN Đoàn Ngọc Tú |