vanban.org

Quyết định 146/2017/QĐDS-ST — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu của ông Bành Thế C và bà Nguyễn Thị Ngọc Nh. Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Bành Thế C, bà Nguyễn Thị Ngọc Nh với ông Bành Trung Th theo giấy giao nhận việc nuôi con nuôi số 02/95, ngày 28/10/1995 của UBND phường An Cư, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (cũ). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa Bành Thế Cường và Bành Trung Thịnh"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Nuôi con nuôi; Điều 10 Luật Nuôi con nuôi - Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
TP CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 146/2017/QĐDS-ST
Ngày: 22/12/2017.
V/v: “Yêu cầu chấm dứt
việc nuôi con nuôi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, TP CẦN THƠ

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông: Bùi Xuân Ánh - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên họp:

Bà Nguyễn Thị Bích Trâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số:736//TLST-VHN, ngày 16 tháng 11 năm 2017 về yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, theo Quyết định mở phiên họp số:221./2017/QĐPH-ST, ngày 05 tháng 12 năm 2017.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1/. Ông Bành Thế C, sinh năm: 1961.

2/. Bà Nguyễn Thị Ngọc Nh, sinh năm: 1963

Đăng ký thường trú: Số 8, Phú Lợi 1, K3 P2, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/. Ông Bành Trung Th, sinh năm: 1995

2/. Bà Bành Thị Thu H, sinh năm: 1968.

Cùng địa chỉ: Số 7, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

( Tất cả có mặt tại phiên họp)

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Theo đơn yêu cầu, bản tự khai người yêu cầu Bành Thế C và Nguyễn Thị Ngọc Nh cho rằng: Vào năm 1995, do hoàn cảnh gia đình của bà Bành Thị Thu H là em ruột của ông Cường khó khăn, đồng thời tạo điều kiện cho cháu là Bành Trung Th con ruột bà Hà thuận lợi trong việc đi học, nên ông, bà có nhận cháu Thịnh là con nuôi và có làm thủ tục giao nhận việc nuôi con nuôi, được UBND phường An Cư, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ ( cũ) cấp giấy giao nhận việc nuôi con nuôi số 02/95, ngày 28/10/1995, đồng thời cũng làm giấy khai sinh cho Thịnh, do ông, bà đứng tên với tư cách là cha, mẹ, được UBND phường An Cư cấp giấy khai sinh số 252, quyển số 02/95, ngày 28/10/1995. Ông Cường, bà Nhung cho rằng mặc dù làm thủ tục nhận nuôi con nuôi, nhưng trên thực tế cháu Thịnh vẫn chung sống với bà Bành Thị Thu H từ năm 1995 cho đến nay. Nay cháu Thịnh đã thành niên, nên ông, bà yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Thịnh.

Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bành Thị Thu H, ông Bành Trung Th cho rằng: Thống nhất như lời trình bày của ông Bành Thế C và bà Nguyễn Thị Ngọc Nh, do vào năm 1995 sau khi sinh cháu Thịnh, do hoàn cảnh neo đơn và để thuận tiện cho cháu Thịnh đi học, nên đã làm thủ tục cho con nuôi cho bà Nhung, ông Cường, nhưng trên thực tế Thịnh vẫn chung sống với bà Hà. Nay ông Cường, bà Nhung yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, bà Hà và ông Thịnh đồng ý.

Tại phiên họp các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày nêu trên.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên: Qua yêu cầu của các đương sự, xét thấy việc các bên nhận nuôi con nuôi có làm thủ tục đúng theo quy định của pháp luật, nay yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi cũng có căn cứ theo quy định pháp luật, nên đề nghị chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Bành Thế C, bà Nguyễn Thị Ngọc Nh đối với ông Bành Trung Th.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Xét thấy việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Bành Thế C, bà Nguyễn Thị Ngọc Nh đối với ông Bành Trung Th căn cứ Điều 10 Luật Nuôi con nuôi, Khoản 5 Điều 29, Điểm b Khoản 2 Điều 35, Điểm l Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và do cha, mẹ nuôi và con nuôi đều cư trú tại quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ nên yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.

[2]. Về nội dung yêu cầu: Xét việc nuôi con nuôi được các bên thực hiện vào năm 1995, nên căn cứ quy định của pháp luật để xem xét thủ tục việc nuôi con nuôi phải áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Xét việc giao nhận nuôi con nuôi được thực hiện khi người nhận con nuôi là ông Cường hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên, người được nhận làm con nuôi là Bành Trung Th dưới mười lăm tuổi, việc nhận nuôi con nuôi đã được UBND phường An Cư, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (cũ) công nhận và ghi vào sổ hộ tịch được thể hiện bằng giấy giao nhận việc nuôi con nuôi số 02/95, ngày 28/10/1995. Do đó việc nuôi con nuôi được các bên thực hiện đúng theo các quy định tại các Điều 34, 35, 36, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 nên việc nuôi con nuôi này là hợp pháp phù hợp với quy định của pháp luật.

Nay xét thấy việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Bành Thế C, bà Nguyễn Thị Ngọc Nh đối với con nuôi là ông Bành Trung Th căn cứ theo Khoản 1 Điều 25 Luật Nuôi con nuôi có quy định căn cứ chấm việc nuôi con nuôi là “ Con nuôi đã thành niên và cha, mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi”. Do đó căn cứ để yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi là phù hợp với quy định của pháp luật, nên có căn cứ để chấp nhận.

[3].Về lệ phí: Người yêu cầu phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 4; Khoản 5 Điều 29; Điểm b Khoản 2 Điều 35; Điểm l Khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 34, 35, 36, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986.

- Điều 10, 25, 27 Luật Nuôi con nuôi

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu của ông Bành Thế C và bà Nguyễn Thị Ngọc Nh.

Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Bành Thế C, bà Nguyễn Thị Ngọc Nh với ông Bành Trung Th theo giấy giao nhận việc nuôi con nuôi số 02/95, ngày 28/10/1995 của UBND phường An Cư, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (cũ).

Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi này có hiệu lực pháp luật.

Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Ông Bành Thế C và bà Nguyễn Thị Ngọc Nh phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) lệ phí việc Hôn nhân và Gia đình, được chuyển từ tiền tạm ứng lệ phí mà ông, bà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 004566 ngày 13/11/2017 thành lệ phí.

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ