- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bế Văn T - Nguyễn Thị H“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Anh Bế Văn T và chị Nguyễn Thị H. 2.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 144/2020/QĐST-HNGĐ | Chiêm Hoá, ngày 16 tháng 7 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 130/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2020, giữa: Nguyên đơn: Anh Bế Văn T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn TT, xã TH, huyện CH, tỉnh TQ. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; Địa chỉ thường trú: Thôn TT, xã TH, huyện CH, tỉnh TQ. Chỗ ở hiện nay: Thôn AB, xã YN, huyện CH, tỉnh TQ. Căn cứ vào Điều 212, 213 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 55, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 08 tháng 7 năm 2020.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 08 tháng 7 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Anh Bế Văn T và chị Nguyễn Thị H. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về con chung: Anh Bế Văn T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bế Khánh L, sinh ngày 07/8/2011. Chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi cháu Bế Khánh L. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Bế Văn T và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn): Anh Bế Văn T có nghĩa vụ nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2019/0002681 ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, trả lại cho anh Bế Văn T 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Chị Nguyễn Thị H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - UBND xã YN (nơi ĐKKH); - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - Lưu. | THẨM PHÁN Phạm Thị Thùy Trâm |