vanban.org

Quyết định 142/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mai L và ông Tạ Văn Kim Đ ly hôn.

Về con chung: Giao ba con chung là Tạ Ngọc Khánh B, sinh ngày 14-03-2015; Tạ Ngọc Khánh N, sinh ngày 22-08-2017 và Tạ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 04-07-2020 cho bà Phạm Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Tạ Văn Kim Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LIEN DONG"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mai L và ông Tạ Văn Kim Đ ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 17-07-2026
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hinh và ông Đào Duy Trâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký của Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 07 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 497/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 05 năm 2026 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 06 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mai L, sinh ngày 30-10-1992, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 28-06-2021. Địa chỉ: Số B, thôn L, xã D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Tạ Văn Kim Đ, sinh ngày 10-01-1995, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 09-08-2021. Địa chỉ: Số A, Xóm C, thôn L, xã D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 05 năm 2026, trong quá trình tố tụng và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Phạm Thị Mai L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Tạ Văn Kim Đ kết hôn ngày 05-11-2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D (xã L, huyện D cũ), tỉnh Lâm Đồng, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không chung quan điểm sống, từ năm 2023 vợ chồng đã sống ly thân đến nay, nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau. Bà yêu cầu ly hôn ông Tạ Văn Kim Đ. Việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Tạ Ngọc Khánh B, sinh ngày 14-03-2015; Tạ Ngọc Khánh N, sinh ngày 22-08-2017 và Tạ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 04-07-2020. Khi ly hôn yêu cầu giao cả ba con chung cho bà Phạm Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng, bà Phạm Thị Mai L không yêu cầu ông Tạ Văn Kim Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung, nợ riêng: đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Ngoài ra, bà Phạm Thị Mai L không yêu cầu gì khác.

Quá trình tố tụng bị đơn ông Tạ Văn Kim Đ có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt ngày 20 tháng 06 năm 2026 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị M Liên kết hôn ngày 05-11-2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D (xã L, huyện D cũ), tỉnh Lâm Đồng, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không chung quan điểm sống, từ năm 2023 vợ chồng đã sống ly thân đến nay, nay bà Phạm Thị Mai L yêu cầu ly hôn thì ông thuận tình ly hôn bà Phạm Thị Mai L.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Tạ Ngọc Khánh B, sinh ngày 14-03-2015; Tạ Ngọc Khánh N, sinh ngày 22-08-2017 và Tạ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 04-07-2020. Khi ly hôn ông đồng ý giao cả ba con chung cho bà Phạm Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng, ông không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung, nợ riêng: đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Ngoài ra, ông Tạ Văn Kim Đ không yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng phát biểu: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Mai L, đề nghị xét xử bà Phạm Thị Mai L và ông Tạ Văn Kim Đ ly hôn; về con chung: Giao ba con chung cho bà Phạm Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Tạ Văn Kim Đ không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị Mai L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Tạ Văn Kim Đ. Ông Tạ Văn Kim Đ hiện đang cư trú tại xã D, tỉnh Lâm Đồng. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị Mai L và bị đơn ông Tạ Văn Kim Đồng Đ1 vắng mặt, đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng và Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Phạm Thị Mai L và ông Tạ Văn Kim Đ kết hôn ngày 05-11-2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D (xã L, huyện D cũ), tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Mai L và ông Tạ Văn Kim Đ là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Phạm Thị Mai L yêu cầu được ly hôn với ông Tạ Văn Kim Đ là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Tạ Ngọc Khánh B, sinh ngày 14-03-2015; Tạ Ngọc Khánh N, sinh ngày 22-08-2017 và Tạ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 04-07-2020. Khi ly hôn bà Phạm Thị Mai L và ông Tạ Văn Kim Đồng Đ1 yêu cầu giao cả ba con chung cho bà Phạm Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Tạ Văn Kim Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, nguyện vọng của con chung Tạ Ngọc Khánh B và Tạ Ngọc Khánh N là được sống cùng với bà Phạm Thị Mai L, bà Phạm Thị Mai L có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, cần ổn định cuộc sống của con chung và vì lợi ích của con chung, nên cần áp dụng các Điều 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao ba con chung là Tạ Ngọc Khánh B, sinh ngày 14-03-2015; Tạ Ngọc Khánh N, sinh ngày 22-08-2017 và Tạ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 04-07-2020 cho bà Phạm Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Tạ Văn Kim Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tài sản chung; Tài sản nợ chung; Tài sản nợ riêng bà Phạm Thị Mai L và ông Tạ Văn Kim Đồng Đ1 xác định đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên không xem xét giải quyết về tài sản.

Về án phí: Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 5 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mai L và ông Tạ Văn Kim Đ ly hôn.

2. Về con chung: Giao ba con chung là Tạ Ngọc Khánh B, sinh ngày 14-03-2015; Tạ Ngọc Khánh N, sinh ngày 22-08-2017 và Tạ Ngọc Khánh N1, sinh ngày 04-07-2020 cho bà Phạm Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Tạ Văn Kim Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Phạm Thị Mai L phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008012 ngày 05 tháng 05 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà Phạm Thị Mai L đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Mai L và ông Tạ Văn Kim Đ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ