vanban.org

Quyết định 142/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

của Bộ luật Lao động năm 2012; của Bộ luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? 39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 142/2025/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đình Giang - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố

Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 233/2025/LĐ-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 121/2025/QĐST-LĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu:Bà Nguyễn Thị Bích Đ, sinh năm: 1983; địa chỉ: Thôn M,

phường V, tỉnh An Giang. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH S; địa chỉ: khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình

Dương (nay là: phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

2. Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu - Thành phố H; địa chỉ: đường N,

phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai trong quá trình giải

quyết bà Nguyễn Thị Bích Đ trình bày:

Hiện nay, bà Đ có nhu cầu rút bảo hiểm nên đã liên hệ với Bảo hiểm xã hội

cơ sở L - Thành phố Hồ Chí Minh để rút bảo hiểm theo qui định. Sau đó được Bảo hiểm xã hội cơ sở L - Thành phố Hồ Chí Minh thông báo vào khoảng thời gian từ tháng 09/2004 đến tháng 06/2007 bà Đ đã ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH S nên công ty đã thực hiện đóng bảo hiểm lao động cho bà vào thời gian trên với mã số bảo hiểm xã hội là 9104129343. Nhưng thực tế, tại thời điểm nêu trên bà Đ đang làm việc cho công ty khác và cho một người quen ở chung trọ (hiện nay bà đã không còn liên lạc được với người này) mượn hồ sơ để đi làm tại Công ty TNHH S đồng thời ký kết hợp đồng lao động và cùng một thời điểm bà Đ tham gia bảo hiểm xã hội tại hai công ty. Do đó, bà Đ không thể rút bảo hiểm xã hội theo quy định. Vì vậy, bà Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Bích Đ và Công ty TNHH S là vô hiệu toàn bộ. Bà Nguyễn Thị Bích Đ yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

Bảo hiểm xã hội cơ sở L - Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là BHXH) trình

bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) của Công ty TNHH S cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTNLĐ-BNN cho bà Nguyễn Thị Bích Đ sinh năm 1983, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 9104129343 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTNLĐ-BNN từ tháng 9/2004 đến tháng 6/2007 tại Công ty TNHH S đã hưởng trợ cấp một lần. Về yêu cầu khởi kiện nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố

Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích Đ là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích Đ. Căn cứ Điều

367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 09/2004 đến tháng 06/2007 bà Đ đã ký hợp

đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH S nên công ty đã thực hiện đóng bảo hiểm lao động cho bà vào thời gian trên với mã số bảo hiểm xã hội là 9104129343. Nhưng thực tế, tại thời điểm nêu trên bà Đ đang làm việc cho công ty khác và cho một người quen ở chung trọ (hiện nay bà đã không còn liên lạc được với người này) mượn hồ sơ để đi làm tại Công ty TNHH S đồng thời ký kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội nên đã được đóng bảo hiểm xã hội tại hai công ty. Do đó, bà không thể rút bảo hiểm xã hội theo quy định.

Xét thấy, lời khai của bà Đ phù hợp với xác nhận của BHXH tại Công

ty TNHH S. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 09/2004 đến tháng 06/2007, bà Đ làm việc tại nhiều công ty khác và không làm việc nên không cung cấp hợp đồng lao động với Công ty TNHH S. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S trong khoảng thời gian nêu trên là người khác.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15

của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Đ cho người khác mượn hồ sơ cá nhân thực hiện kí hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà

Nguyễn Thị Bích Đ về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Bích Đ với Công ty TNHH S bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem

xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Đ và ý kiến của bà về việc bà Đ không kí kết hợp đồng với Công ty TNHH S1 và làm việc trong khoảng thời gian từ tháng 09/2004 đến tháng 6/2007.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ

tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Bích Đ chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52

của Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51

của Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị

Bích Đ.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Bích Đ với Công ty

TNHH S1 (theo sổ bảo hiểm xã hội số 9104129343) bị vô hiệu toàn bộ

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 9104129343 không

phải là bà Nguyễn Thị Bích Đ, sinh năm 1983, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị Bích Đ phải

chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0008284 ngày 08/08/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng

cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ