- Tranh chấp gì? "Xét quyết định đình chỉ sơ thẩm vụ án Bà Nguyễn Thị Kim L kiện Ủy ban nhân dân thành phố P"
- Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính đình chỉ giải; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính đình chỉ giải
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 142/2025/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 9 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Thu Thủy; Các Thẩm phán:Ông Bùi Đức Xuân; Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên. Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 04/2025/QĐST-HC ngày 10 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang) đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143, và Điều 144 Luật Tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất”, giữa:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Ngõ K, T, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay
là đặc khu P, tỉnh An Giang).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh V, sinh năm 1961.
Địa chỉ: P T, quận T, Thành phố Hà Nội (nay là phường T, Thành phố Hà
Nội).
- Người bị kiện:
+ Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: UBND đặc khu P, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: số D, đường C, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc
khu P, tỉnh An Giang).
+ Ban Q.
Địa chỉ: số A đường N, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc
khu P, tỉnh An Giang).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV H
Địa chỉ: V quản lý dự án M, tổ A, ấp Ô, xã cửa D, thành phố P, tỉnh Kiên
Giang (nay là đặc khu P, tỉnh An Giang).
Tại đơn kháng cáo ngày 01/3/2025, bà Nguyễn Thị Kim L kháng cáo yêu
cầu hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sơ thẩm, tiếp tục giải quyết vụ án.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim L; giữ nguyên quyết định sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/12/2023 và đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung
ngày 16/01/2024, bà Nguyễn Thị Kim L xác định ngày 28/02/2011 bà Nguyễn Thị Kim L nhận được Quyết định số 1428/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện P về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khu Du lịch ven biển B. Thông qua quyết định này bà L đã biết Quyết định số 556/QĐ- UBND ngày 14/01/211 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu Du lịch ven biển B. Ngày 24/12/2014, bà L nhận được Quyết định số 1030/QĐ-UBND ngày 19/01/20211 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Du lịch ven biển B. Cũng theo đơn khởi kiện bà L trình bày ngày 28/02/2011, bà đã được Ban đền bù giải tỏa gửi bản fax thông báo về việc bồi thường để thực hiện dự án do Công ty H làm chủ đầu tư. Năm 2014, bà L đã biết việc Công ty H tiến hành dự án trên đất nên bà L đã khiếu nại đến Văn phòng tiếp công dân của UBND huyện P.
Như vậy, bà L đã biết việc Ủy ban nhân dân huyện P thu hồi đất, giao đất
cho Công ty H để thực hiện Dự án khu du lịch ven biển B; đã nhận được quyết định về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất từ năm 2011 – 2014. Đến ngày 04/12/2023 bà Nguyễn Thị Kim L nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang yêu cầu giải quyết: Tuyên bố hành vi giao đất không đúng thẩm quyền của UBND thành phố P và Ban Q là trái pháp luật; xem xét tính hợp pháp của các Quyết định hành chính gồm: Quyết định số 556/QĐ-UBND ngày 14/01/211 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu Du lịch ven biển B; Quyết định số 1030/QĐ-UBND ngày 19/01/2011 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Du lịch ven biển B; Quyết định số 1428/QĐ-UBND ngày 21/01/2011 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khu Du lịch ven biển Bắc Bãi T1 thuộc trường hợp hết thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án do hết thời
hiệu khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim L không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên quyết định sơ thẩm.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu
án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, bà L là người cao tuổi, có đơn xin miễn nên được miễn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 243 của Luật tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim L. Giữ nguyên Quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 04/2025/QĐST-HC ngày 10/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang).
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L được miễn.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện CTVKSXXPT tại TP.HCM; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - Đương sự (3); - Lưu HSVA(2), VP(5) 15B LTTT. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Thu Thủy |