vanban.org

Quyết định 142/2023/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 19/06/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2023/QĐST-DS ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Về án phí: bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0005269 ngày 07/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1988 Địa chỉ: thôn M, xã B, thành phố H1, tỉnh Quảng Bình"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2023/QĐST-DS ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự đình chỉ giải; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 142/2023/QĐ-PTĐà Nẵng, ngày 19 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Trần Thị Kim Liên

Các Thẩm phán:

ông Phạm Tồn

ông Phạm Văn Hợp

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2023/QĐST-DS ngày 30/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã căn cứ vào điểm c khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Yêu cầu tất toán tài sản bảo đảm” giữa:

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1988

Địa chỉ: thôn M, xã B, thành phố H1, tỉnh Quảng Bình.

Bị đơn: Ngân hàng X.

Địa chỉ: thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Nguyễn Mạnh H2 - Phó Giám đốc Ngân hàng X Chi nhánh Q Quảng Bình (văn bản uỷ quyền số 15/NHN0.QT.UQ ngày 31/3/2022).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1957.

Địa chỉ: thôn M, xã B, thành phố H1, tỉnh Quảng Bình.

Tại đơn kháng cáo ngày 06/4/2023 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H với lý do: bà không thoả thuận được với gia đình ông Nguyễn Hoài N nên bà đề nghị Toà án tiếp tục xét xử vụ án.

XÉT THẤY:

Ngày 14/8/2013, vợ chồng ông Nguyễn Hoài N và bà Nguyễn Thị H ký Hợp đồng tín dụng số 201300493 với Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Q để vay số tiền 500.000.000đồng, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 14/8/2013. Hợp đồng này được đảm bảo bằng tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK786247 do UBND thành phố H1 cấp ngày 17/10/2012 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 10TD/402 ký ngày 14/8/2013 (bà H là người đại diện vay vốn). Khoản vay đã quá hạn lâu ngày, chuyển sang nợ xấu. Năm 2016, 2017, bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Lệ T (là mẹ ruột và chị ruột của ông N) đã trả nợ thay toàn bộ khoản vay và lãi phát sinh của ông N, bà H cho Ngân hàng. Ngày 05/02/2016, ông N (đang ở Hàn Quốc) có đơn gửi Ngân hàng X Chi nhánh Q Quảng Bình đề nghị dừng tư cách người đại diện của bà H, không cho bà H nhận giấy tờ tài sản. Bà L cũng có đơn đề nghị Ngân hàng không cho bà H nhận lại tài sản thế chấp. Tại Thông báo số 06/NHN0/QTr-TB ngày 04/12/2017 của Ngân hàng X Chi nhánh Q Quảng Bình đã thông báo cho ông N, bà H và người có liên quan, nội dung như sau: X Chi nhánh Q tạm thời chưa trả lại giấy tờ tài sản thế chấp cho khách hàng Nguyễn Thị H (do đang tranh chấp); chỉ thực hiện giao lại giấy tờ tài sản thế chấp khi có mặt đầy đủ cả ông N và bà H hoặc theo quyết định của cơ quan pháp luật có thẩm quyền.

Không đồng ý với Thông báo số 06 nêu trên, bà H khởi kiện yêu cầu Ngân hàng X Chi nhánh Q Quảng Bình tất toán tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK786247 do UBND thành phố H1 cấp ngày 17/10/2012 cho vợ chồng bà. Ngày 24/11/2022, bà L có đơn yêu cầu độc lập - yêu cầu bà H trả cho bà số tiền mà bà đã thanh toán cho Ngân hàng, tổng cộng: 548.946.934đồng. Ngày 30/3/2023, bà H có đơn rút đơn khởi kiện, bà L có đơn rút yêu cầu độc lập nên Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình căn cứ vào điểm c khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật. Nay bà H kháng cáo yêu cầu Toà án tiếp tục xét xử vụ án vì không thoả thuận được với gia đình ông N. Lý do kháng cáo này là không thể chấp nhận.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2023/QĐST-DS ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: kháng cáo của bà Nguyễn Thị H không được chấp nhận nên bà phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2023/QĐST-DS ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

2. Về án phí: bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0005269 ngày 07/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ