vanban.org

Quyết định 141/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Quốc T, Cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc là Cơ sở cai nghiện ma túy B; Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Phòng Lao động thương binh và xã hội quận Thủ Đức có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Quốc T, Cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc là Cơ sở cai nghiện ma túy B; Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội P.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 141/QĐ-TAThủ Đức, ngày 02 tháng 7 năm 2018.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Công Tình.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc Hoa.

Ngày 02/7/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 231/2018/QĐ-TA ngày 26/6//2018 đối với:

Họ và tên: Trần Quốc T, Giới tính: Nam.

Sinh năm: 1988.

CMDN số 024854710 do Công an Thành phố H cấp

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Thiên Chúa.

Trình độ văn hoá: 01/12.

Nguyên quán: Thành phố H.

Hộ khẩu thường trú: a đường b, khu phố c, phường B, quận T, TP. Hồ Chí Minh.

Chỗ ở hiện nay: a đường b, khu phố c, phường B, quận T, TP. Hồ Chí Minh

Tiền án; Tiền sự: Không có.

Con ông: Trần Văn T và bà: Hồ Thị L.

Ông Trần Quốc T (có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội Q. Thủ Đức, ông Lý Hồ Nhựt Hoàng, chức vụ: Chuyên viên.

2. Đại diện Viện ki m sát nhân dân qu n Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Như Khương – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 04/01/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận T ban hành Quyết định số 08/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn áp dụng là 03 tháng từ ngày 04/01/2018 đến ngày 04/4/2018. Ngày 04/4/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận T cấp giấy xác nhận số 122/GCN-UBND về việc đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, đối với ông T.

Ngày 03/4/2018, Công an phường B, quận T lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an phường B, quận T đã đưa ông T đi xét nghiệm chất ma túy. Tại phiếu xét nghiệm và biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 03/4/2018 của Trạm Y tế phường B, quận T xác định ông T dương tính Met (Methamphetamine).

Kết quả xác minh tình trạng cư trú hiện nay của ông T là có nơi cư trú ổn định.

Tại công văn số 677/LĐTB ngày 25/6/2018 của Phòng lao động thương binh và xã hội quận Thủ Đức đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc là Cơ sở cai nghiện ma túy B; Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội P đối với ông T trong thời gian là 24 tháng.

Tại phiên họp hôm nay:

Đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội quận Thủ Đức, giữ nguyên ý kiến.

Người bị đề nghị ông Trần Quốc T thống nhất với ý kiến đề nghị của đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội quận Thủ Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến thời điểm mở phiên họp đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Những người tham gia phiên họp thực hiện các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên có cơ sở xác định:

Ông Trần Quốc T đã có hành vi vi phạm hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy, đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận T ban hành Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 04/01/2018 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; ngày 04/4/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận T cấp giấy chứng nhận số 122/GCN-UBND về việc đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với ông T. Ngày 03/4/2018 Công an phường B, quận T lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, căn cứ vào phiếu xét nghiệm và biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 03/4/2018 của Trạm Y tế phường B, quận T xác định ông T dương tính Met (Methamphetamine).

Như vậy có đủ cơ sơ pháp lý kết luận ông T đã có hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy và có nơi cư trú ổn định đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy mà vẫn còn tái nghiện, hành vi của ông T là vi phạm pháp luật theo quy định tại Khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Do vậy, Phòng Lao động thương binh và xã hội quận Thủ Đức, đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T là có cơ sở, nên được chấp nhận.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T đã được cơ quan chức năng thực hiện theo đúng trình tự thủ tục được quy định tại các Điều 103; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Khoản 1 Điều 3, Điều 4, Khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của ông T không những đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bản thân, mà còn vi phạm trật tự, an toàn xã hội, nghiện ma túy là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian thích hợp để ông T được đi cai nghiện, chữa bệnh, học tập, tái hòa nhập cộng đồng trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 95, 96, 105 và Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Căn cứ Khoản 1 Điều 3; Điều 4; Khoản 1 Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều 11; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Căn cứ Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ Điều 9; Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/ 01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Quốc T, Cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc là Cơ sở cai nghiện ma túy B; Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Phòng Lao động thương binh và xã hội quận Thủ Đức có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức có quyền kháng nghị; ông Trần Quốc T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc là Cơ sở cai nghiện ma túy B; Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội P (Trực thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội thành phố H; địa chỉ: Xã P, huyện B, tỉnh B)./.

Cỡ chữ