vanban.org

Quyết định 141/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 05/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Đình B về việc tuyên bố bà Bùi Thị L bị mất năng lực hành vi dân sự.

Tuyên bố: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1950; địa chỉ: phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng bị mất năng lực hành vi dân sự. Việc xác định và đăng ký người giám hộ cho người bị mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo Luật hộ tịch, Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông Trần Đình B yêu cầu tuyên bố bà Bùi Thị Lan mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Đình B về việc tuyên bố bà Bùi Thị L bị mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. CẨM LỆ TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 141 /2022/QĐST-DSCẩm Lệ, ngày 05 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất

năng lực hành vi dân sự”

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần phiên họp giải quyết việc dân sự gồm có:

- Chủ toạ phiên họp: Bà Đỗ Thị Thu Trang - Thẩm phán

- Đại diện VKSND quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Trần Lê Phượng, Kiểm sát viên.

- Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Thảo Vân, Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng.

Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 102/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Đình B, sinh năm 1950. Địa chỉ: phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; ông B có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Bùi Thị L, sinh năm 1950. Địa chỉ: phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; bà Lan vắng mặt.

+ Ông Trần Bùi Đình D, sinh năm 1972. Địa chỉ: phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Trần Thị Thanh D, sinh năm 1973. Địa chỉ: phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

+ Ông Trần Bùi Đình D, sinh năm 1975. Địa chỉ: phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1981. Địa chỉ: phườngT, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Trần Bùi Đình D, ông Trần Bùi Đình D, bà Trần Thị Ngọc D ủy quyền cho bà Trần Thị Thanh D tham gia phiên họp (Theo giấy ủy quyền lập ngày 14/7/2022 và ngày 16/7/2022); bà D có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu, bản tự khai, lời trình bày của ông Trần Đình B tại phiên họp thể hiện: ông Trần Đình B và bà Bùi Thị L kết hôn với nhau từ năm 1970 và có với nhau 04 người con (người con đầu sinh năm 1972, con út sinh năm 1981). Năm 2007 bà L bắt đầu có biểu hiện suy giảm trí nhớ, gia đình đã đưa bà Bùi Thị L đi khám và điều trị nhiều nơi, đến năm 2021 bệnh tình của bà L không thuyên giảm mà ngày càng trở nặng, nằm một chỗ và mất khả năng nhận thức, mọi hoạt động sinh hoạt hằng ngày đều phải có người hỗ trợ. UBND phường K, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã cho bà L được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Do đó, ông Trần Đình B yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Bùi Thị L mất năng lực hành vi dân sự nhằm mục đích giải quyết việc gia đình.

Ngày 25 tháng 7 năm 2022, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với bà Bùi Thị L. Ngày 03/8/2022, Trung tâm giám định Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung đã tiến hành giám định pháp y tâm thần cho bà Bùi Thị L và tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 1462/ KLGĐ ngày 08/8/2022 đã kết luận:

Bệnh sử và tiền sử: Đối tượng Bùi Thị L, sinh năm 1950; có tiền sử sinh đẻ, phát triển thể chất và tâm thần hoàn toàn bình thường. Đối tượng học hết lớp 12/12, sau tốt nghiệp Chuyên ngành Điều dưỡng tại Đà Nẵng, từng làm việc tại Bệnh viện Quảng Đức - Đà Nẵng, Trạm Y tế Hòa Phước - Đà Nẵng, làm y tá tư, đến năm 2005 thì nghỉ ở nhà cho đến nay. Đối tượng đã lập gia đình và có 04 người con. Đối tượng có tiền sử phát hiện bị bệnh cao huyết áp từ khoảng trước năm 2022, có khám và uống thuốc tương đối đều cho đến nay. Năm 2007, đối tượng bắt đầu có biểu hiện suy giảm trí nhớ: lúc nhớ lúc quên, hay để quên tiền bạc, ăn rồi bảo chưa ăn, đi lạc không nhớ đường về, hay quên tên con cháu trong nhà, mặc quần áo lẫn lộn, vụng về trong các động tác sinh hoạt hàng ngày. Gia đình từng đưa đối tượng đi khám và điều trị nhiều nơi, sau về có uống thuốc nhưng tình trạng bệnh không những không thuyên giảm mà ngày càng nặng. Năm 2021, đối tượng bắt đầu xuất hiện cơn co giật tay chân, trợn mắt, mất ý thức, cơn kéo dài khoảng 1-2 phút, trung bình 1-2 cơn/tuần; từng được khám và điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Gia đình từ ngày 29/6/2021 đến 02/7/2021 với chẩn đoán lúc xuất viện: “Bệnh chính: Động kinh triệu chứng Teo não + Sa sút trí tuệ loại thoái hóa giai đoạn muộn; Bệnh kèm: Thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ; Biến chứng: Suy kiệt”. Sau ra viện, đối tượng từng nhiều lần được gia đình đưa đi khám và điều trị theo đơn tại Bệnh viện Đa khoa Gia đình và Bệnh viện Tâm trí Đà Nẵng, uống thuốc tương đối đều cho đến nay, số lần lên cơn có giảm, cơn co giật sau cùng cách đây khoảng 03 tuần.

Hiện tại, đối tượng không nói được, không nhận biết được người thân trong gia đình, chỉ nằm một chỗ, không đi lại được, liệt tứ chi, đêm ngủ ít, ăn uống phải đút, đại tiểu tiện không tự chủ, việc vệ sinh cá nhân do người nhà trực tiếp chăm sóc. Đối tượng Bùi Thị L hiện đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định

- Quá trình theo dõi giám định:

+ Biểu hiện chung: tỉnh táo, không tiếp xúc được, hỏi không nói; ý thức: không khám xét được; tư duy hình thức: không nói, tư duy chậm, nội dung không khai thác được.

+ Tri giác: không khai thác được ảo tưởng, ảo giác; cảm xúc: thờ ơ với xung quanh;

+ Hành vi tác phong:

Hành động có ý chí: không đi lại được, chỉ nằm một chỗ, giảm sút hoạt động có ý chí.

Hoạt động bản năng: đêm ngủ ít, ăn uống phải đút, đại tiểu tiện không tự chủ, việc vệ sinh cá nhân do người nhà chăm sóc.

Vận động: Hiện tại cơn co giật vẫn còn, cơn sau cùng cách đây khoảng 03 tuần.

+ Chú ý: không tập trung.

+ Trí nhớ: không khám xét được. Trí tuệ: giảm sút.

+ Khám thần kinh:

Vong ngôn, vong hành, vong tri: không đánh giá được.

Liệt tứ chi.

Kết luận:

- Về mặt y học: Mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát sớm (F00.0) + Động kinh (G40).

- Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự.

Tại phiên họp, người yêu cầu ông Trần Đình B giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố bà Bùi Thị L mất năng lực hành vi dân sự nhằm mục đích giải quyết việc gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh D là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Bùi Đình D, ông Trần Bùi Đình D, bà Trần Thị Ngọc D. Bà D, ông D, ông D và bà D là các con của ông Trần Đình B và bà Bùi Thị L thống nhất với yêu cầu của ông Trần Đình B, yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Bùi Thị L mất năng lực hành vi dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên họp đề nghị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đình B về việc tuyên bố bà Bùi Thị L bị mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và của đại diện Viện kiểm sát nhân dan quận Cẩm Lệ tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ nhận định:

Về tố tụng

Ông Trần Đình B nộp đơn yêu cầu tuyên bố bà Bùi Thị L (cùng địa chỉ: số phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng) bị mất năng lực hành vi dân sự là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Trần Đình B kết hôn với bà Bùi Thị L từ năm 1970 và đã có với nhau 04 người con chung (người con đầu sinh năm 1972, con út sinh năm 1981). Do đó, ông Trần Đình B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Bùi Thị L bị mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu:

Năm 2007, bà L bắt đầu có biểu hiện suy giảm trí nhớ: lúc nhớ lúc quên, vụng về trong các động tác sinh hoạt hàng ngày. Gia đình từng đưa bà L đi khám và điều trị nhiều nơi, sau về có uống thuốc nhưng tình trạng bệnh vẫn không thuyên giảm. Đến năm 2021, bệnh tình của bà L ngày càng nặng bà L bắt đầu xuất hiện cơn co giật tay chân, trợn mắt, mất ý thức, không nói được, không nhận biết được người thân trong gia đình, chỉ nằm một chỗ, không đi lại được, liệt tứ chi nằm một chỗ, ăn uống phải đút, việc vệ sinh cá nhân do người nhà trực tiếp chăm sóc. Do đó, ông Trần Đình B làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Bùi Thị L bị mất năng lực hành vi dân sự nhằm mục đích giải quyết việc gia đình.

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 1462/ KLGĐ ngày 08/8/2022 của Trung tâm giám định Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung đối với bà Bùi Thị L đã kết luận: Tại thời điểm hiện tại: về mặt y học: về mặt y học: Mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát sớm (F00.0) + Động kinh (G40); về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự.

Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ nhận thấy có đủ căn cứ chấp nhận đơn vêu cầu của ông Trần Đình B về việc vêu cầu tuyên bố bà Bùi Thị L bị mất năng lực hành vi dân sự.

Việc xác định và đăng ký người giám hộ cho người bị mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo Luật hộ tịch, Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Về lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Đình B là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí yêu cầu.

Về chi phí giám định: Ông Trần Đình B phải chịu chi phí giám định pháp y tâm thần theo quy định pháp luật.

Từ những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 376, Điều 372, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật dân sự; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 2 Luật Người cao tuổi.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Đình B về việc tuyên bố bà Bùi Thị L bị mất năng lực hành vi dân sự.

2. Tuyên bố: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1950; địa chỉ: phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng bị mất năng lực hành vi dân sự.

Việc xác định và đăng ký người giám hộ cho người bị mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo Luật hộ tịch, Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Đình B được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.

4. Chi phí trưng cầu giám định pháp y tâm thần ông Trần Đình B phải chịu là: 1.233.750 đồng theo quy định pháp luật (Ông B đã nộp đủ cho Trung tâm giám định Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung ).

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định.

Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định .

Cỡ chữ