- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "GQV"
- Tòa quyết gì? SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG -----***----- Sè: 14/2020/Q§- VDS |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, TP. HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kiểm
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân nhân dân quận Hà Đông
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Thùy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP. Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 13/2020/TLST-VDS ngày 7 tháng 02 năm 2020 về yêu cầu Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi theo Quyết định mở phiên họp số: 13/2020/QĐPH-DS ngày 23 tháng 4 năm 2020
*Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Chị Ngô Thị Q, sinh năm 1974. Có mặt
Trú tại: Tổ dân phố …, phường Đ, quận H, TP. H.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1949. Có mặt
Trú tại: Tổ dân phố …, phường Đ, quận H, TP. H
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà K.
Bà Lê Thu H – Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Hà Nội. Có mặt
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Chị Q yêu cầu Tòa án tuyên bố mẹ chị là bà Nguyễn Thị K là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cử chị là người đại diện của bà K
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu và lời khai tiếp theo, người yêu cầu là chị Ngô Thị Q trình bày: Mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị K từ khi sinh ra đã bị âm điếc bẩm sinh, trong gia đình bà K không có ai bị cẩm điếc bẩm sinh cũng không bị bệnh gì cả. Do bị câm điếc bẩm sinh nên mẹ chị không được đi học; lớn lên mẹ chị lấy bố chị là Ngô Doãn N. Hàng ngày mẹ chị vẫn làm ruộng để sinh sống, giao tiếp với người thân bằng kí hiệu và vẫn biết phân biệt đúng sai. Sau khi lấy bố chị thì bố mẹ chị chỉ sinh được một mình chị. Đến năm 2006 bố chị là ông Ngô Doãn N mất nên chỉ còn hai mẹ con. Do mẹ chị bị câm điếc nên gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, giao tiếp; từ năm 2013 đến nay mẹ chị được UBND phường Đ cấp giấy xác nhận và cho hưởng trợ cấp dành cho người khuyết tật. Nay chị đề nghị Tòa án tuyên bố mẹ chị là bà Nguyễn Thị K là người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cử chị là con duy nhất của bà làm người giám hộ cho bà.
Quá trình giải quyết vụ việc, chị Q có đề nghị trưng cầu giám định sức khỏe, tâm thần của bà Nguyễn Thị K.
Tại kết luận giám định sức khỏe, tâm thần số 16/KLGĐ ngày 27/2/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương, Bộ y tế kết luận: Bà Nguyễn Thị K có bệnh chậm phát triển tâm thần. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số E78. Bà Nguyễn Thị K hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi)
Tại phiên họp Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị K trình bày: Bà K là người bị câm điếc bẩm sinh, hiện đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Theo bản kết luận giám định sức khỏe, tâm thần của Viện pháp y tâm thần kết luận: Bà Nguyễn Thị K có bệnh chậm phát triển tâm thần. Bà Nguyễn Thị K hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi). Nay chị Q yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị K có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà K: nhất trí với yêu cầu của chị Q và đề nghị chỉ định chị Q là người giám hộ cho bà K, đề nghị Tòa án chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; về nội dung: Bà K là người bị câm điếc đã được chính quyền xác nhận, Viện giám định pháp y tâm thần cũng có kết luận về việc bà K bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên đề nghị Tòa án căn cứ Điều 23, 47; 48;49; 57;58; 59 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 27; Điều 35; Điều 149; Điều 371; Điều 372; Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTV – QH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Q; tuyên bố bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1949; trú tại: tổ dân phố …, phường Đ, quận H, TP. H có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do bố mẹ, chồng bà K đều đã mất, chỉ có chị Ngô Thị Q là con duy nhất có đủ năng lực hành vi dân sự nên đề nghị chỉ định chị Ngô Thị Q là người giám hộ của bà Nguyễn Thị K.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hà Đông nhận định:
1} Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có nơi cư trú tại phường Đ, quận H, TP. H nên căn cứ Điều 27; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ việc trên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận H giải quyết.
2} Về nội dung: bà Nguyễn Thị K từ khi sinh ra đã bị câm điếc bẩm sinh; hiện bà K đang được hưởng trợ cấp xã hội. Do bị câm điếc bẩm sinh nên bà K không được đi học; lớn lên bà Nguyễn Thị K lấy ông Ngô Doãn N và sinh được một người con là chị Ngô Thị Q. Hàng ngày, bà K vẫn làm ruộng để sinh sống, giao tiếp với người thân bằng kí hiệu, vẫn phân biệt đúng, sai. Đến năm 2006 chồng bà K là ông Ngô Doãn N mất nên chỉ còn hai mẹ con. Do bà K bị câm điếc nên gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, giao tiếp. Vì vậy con gái bà K là chị Ngô Thị Q đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị K là người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Xét thấy bà Nguyễn Thị K được UBND phường Đ xác nhận là đối tượng khuyết tật dạng nghe, mức độ nặng và được hưởng trợ cấp hàng tháng. Tại kết luận giám định sức khỏe, tâm thần số 16/KLGĐ ngày 27/2/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương, Bộ y tế kết luận: Bà Nguyễn Thị K là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do vậy chị Ngô Thị Q yêu cầu Tòa án tuyên bố mẹ chị là bà Nguyễn Thị K có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Q.
Đối với yêu cầu của chị Ngô Thị Q về việc chỉ định chị Ngô Thị Q là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị K. Xét thấy bố mẹ đẻ và chồng của bà Nguyễn Thị K đều đã mất, bà K chỉ có một người con duy nhất là chị Ngô Thị Q. Xét chị Q có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên chấp nhận yêu cầu của chị Q; cử chị Ngô Thị Q là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị K. Chị Ngô Thị Q được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người giám hộ cho bà Nguyễn Thị K theo quy định của pháp luật.
3} Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Q phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật;
quyÕt ®Þnh
- Căn cứ Điều 23, 47; 48;49; 57;58; 59 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 27; Điều 35; Điều 149; Điều 371; Điều 372; Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTV – QH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Q;
2. Tuyên bố bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1949; trú tại: Tổ dân phố .., phường Đ, quận H, TP. H có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
3. Chỉ định chị Ngô Thị Q là người giám hộ của bà Nguyễn Thị K. Chị Ngô Thị Q được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người giám hộ cho bà Nguyễn Thị K theo quy định của pháp luật.
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Ngô Thị Q phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự (được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0008736 ngày 7/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận H, thành phố H)
5. Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
N¬i nhËn:
| - TANDTP Hµ Néi; - VKSND quËn Hµ §«ng; - C¬ quan THA quËn Hµ §«ng; - Ng êi yªu cÇu; - L u hå s¬. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Kiểm |