vanban.org

Quyết định 14/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh – Giáo dục – Lao động và Xã hội tỉnh Bình Phước đối với Trịnh Văn N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trịnh Văn N được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh – Giáo dục – Lao động và Xã hội tỉnh Bình Phước đối với Trịnh Văn N.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/QĐ-TAPhú Riềng, ngày 20 tháng 7 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - chủ trì phiên họp: Ông Lê Quang Ninh

Thư ký phiên họp: Ông Chu Ngọc Phú

Ngày 20 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 14/QĐ-TA ngày 14 tháng 6 năm 2017 đối với:

Họ và tên: Trịnh Văn N – Tên gọi khác: N Thể

Giới tính: N

Sinh năm: 1990

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 9/12

Nguyên quán: Quảng Nam

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 1, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Không

Con ông Trịnh Khắc Sơn và bà Vũ Thị Thể

Tiền án: Bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm (Kể từ ngày 09/7/2015) tại bản án số 71/2015/HSST ngày 09/7/2015.

Tiền sự: 01 (Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 06/QĐ-UBND ngày 05/01/2017 thời hạn 03 tháng đối với đối với Trịnh Văn N. Ngày 05/4/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước ban hành Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Trịnh Văn N).

Có sự tham gia của:

1. Cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện theo ủy quyền của cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Thanh

- Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Bình Phước (Theo Giấy ủy quyền số 20/GUQ-PLĐTBXH ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P: Ông Mai Phi Hùng - Kiểm sát viên.

(Trịnh Văn N vắng mặt tại phiên họp không có lý do).

NHẬN THẤY:

Trịnh Văn N là đối tượng nghiện ma túy ở địa phương từ năm 2016.

Ngày 05/01/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 06/QĐ-UBND thời hạn 03 tháng đối với đối với Trịnh Văn N. Ngày 05/4/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước ban hành Giấy chứng nhận 01/GCN-UBND chứng nhận Trịnh Văn N đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Ngày 17/6/2017, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện P kết hợp với Công an xã L, huyện P đưa đối tượng Trịnh Văn N về trụ sở Công an xã làm việc, đồng thời phối hợp cùng trạm y tế xã tiến hành thử test nhanh nước tiểu của N, kết quả dương tính với ma túy dạng ma túy tổng hợp dạng đá. Qua làm việc, Trịnh Văn N thừa nhận vẫn còn sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiên họp:

Ý kiến của ông Nguyễn Văn Thanh đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P có ý kiến: Trịnh Văn N đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dục tại địa phương vẫn không tự cai nghiện mà còn tụ tập với các đối tượng nghiện nên cần đưa Trịnh Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 (Hai mươi bốn) tháng để Trịnh Văn N có đủ thời gian cai nghiện, từ bỏ ma túy, trở về xã hội làm người công dân tốt.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P: Hồ sơ được lập theo đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Có đủ cơ sở để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Văn N nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện P áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Văn N như ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện P.

Người bị đề nghị Trịnh Văn N mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp nên không có ý kiến.

Sau khi nghe ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện P; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị;

XÉT THẤY:

Xét đề nghị của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện P về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội tỉnh Bình Phước đối với Trịnh Văn N, thẩm phán nhận định:

Về tính hợp pháp của hồ sơ:

Tài liệu trong hồ sơ đề nghị đầy đủ đúng theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Văn N đúng thời hiệu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Chủ tịch UBND xã L, huyện P lập hồ sơ đề nghị là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Ủy ban nhân dân xã L, huyện P đã thông báo cho xã L, huyện P về việc lập hồ sơ đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Sau khi hết thời hạn 05 ngày kể từ ngày thông báo cho Trịnh Văn N, Ủy ban nhân dân xã L, huyện P gửi hồ sơ cho Trưởng phòng Tư pháp huyện P để kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ theo đúng trình tự quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Trưởng phòng Tư pháp huyện P đã kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ và chuyển hồ sơ đề nghị cho Trưởng phòng Lao động – Thương bình và xã hội theo đúng thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Trưởng phòng Lao động – Thương binh và xã hội đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và chuyển hồ sơ cho Tòa án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Văn N: Trịnh Văn N là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016 và đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện P ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng. Sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Trịnh Văn N vẫn không lo làm ăn mà tụ tập với đám bạn bè xấu, tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy với các đối tượng nghiện trên địa bàn. Hành vi của Trịnh Văn N không những gây mất trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Do đó, để đảm bảo an toàn cho xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn xã hội khác tại địa phương đồng thời tạo điều kiện để Trịnh Văn N có cơ hội sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục, Lao động và xã hội tỉnh Bình Phước đối với Trịnh Văn N để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của Trung tâm là phù hợp. Đề nghị của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Văn N thời hạn 24 tháng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh – Giáo dục – Lao động và Xã hội tỉnh Bình Phước đối với Trịnh Văn N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trịnh Văn N được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân huyện P có quyền kiến nghị trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện P chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P đưa Trịnh Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ