- Tranh chấp gì? "đưa đi cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/QĐ-TA | Bù Đốp, ngày 25 tháng 7 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán:
Ông Phạm Cao Khải
2. Thư ký phiên họp: Ông Lý Văn Hơn
Ngày 25 tháng 7 năm 2017, tại Phòng họp-Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 14/QĐ - TA ngày 17/7/2017 đối với:
Họ và tên: Nguyễn A; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nguyên quán: tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Không; Hộ khẩu thường trú: Khu phố M, TT. N, huyện L, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Như trên; Tiền án: Không; Tiền sự: Bị Công an TT. L xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 09/QĐ-XPVPHC ngày 21/3/2017; Con ông: B (đã chết) và bà C (sinh năm 1961). Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Dương Thị Xuân - Chức vụ: Trưởng phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Bù Đốp.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp: Bà Huỳnh Thị Dạ Thảo - Kiểm sát viên
3. Đại diện cơ quan Công an huyện Bù Đốp: Ông Nguyễn Đình Thảng - Cán bộ
4. Người thân của người bị đề nghị: Bà C, sinh năm 1961 (mẹ ruột A); bà E (bà Ngoại A).
NHẬN THẤY:
A sử dụng ma túy từ năm 2008, ngày 20/3/2017 A sử dụng ma túy bị Công an phát hiện, lập biên bản vi phạm và xử phạt bằng quyết định số: 09/QĐ-XPVPHC ngày 21/3/2017, ngày 21/4/2017 A tiếp tục sử dụng ma túy bị phát hiện, tiến hành lập biên bản vi phạm, lập các thủ tục đưa đối tượng ra giáo dục tại xã, phường thị trấn trong thời hạn 03 tháng theo Quyết định số: 55/QĐ-UBND ngày 10/5/2017 của UBND xã TT. L. Trong các lần bị phát hiện sử dụng ma túy A đã cam kết không tiếp sử dụng ma túy, nhưng vào ngày 26/6/2017 Công an lại phát hiện A sử dụng trái phép chất ma túy nên UBND xã TT. L đã ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số: 59/QĐ – UBND ngày 30/6/2017 và tiến hành lập hồ sơ gửi Phòng Tư pháp, Phòng Lao động - thương binh và xã hội huyện Bù Đốp chuyển hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với A.
*Tại buổi tiến hành họp xét:
- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Bù Đốp có ý kiến: A nghiện ma túy từ năm 2008, A đã hứa và cam kết từ bỏ ma túy nhưng không từ bỏ được, liên tục sử dụng ma túy làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, làm cơ sở phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nên cần phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A trong thời hạn 24 tháng để A có thời gian cai nghiện, từ bỏ được ma túy.
- Người bị đề nghị và Người thân của người bị đề nghị đều có ý kiến: Đã thấy rõ tác hại của ma túy và đồng ý đi cai nghiện theo quy định để sau này làm người có ích cho gia đình và xã hội.
- Cơ quan công an huyện Bù Đốp có ý kiến: A là người nghiện ma túy từ năm 2008, thời gian gần đây có biểu hiện gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Để tránh làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, để A có thể cai nghiện thành công cần đưa A đi cai nghiện trong thời hạn 24 tháng như đề nghị là cần thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành, tham gia phiên họp là đúng quy định. Về thời gian đưa đi cai nghiện Tòa án xem xét theo đề nghị của Cơ quan đề nghị.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia, nhận thấy:
Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị được lập đúng theo quy định khoản 01 Điều 9 Nghị định 221 và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 và Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và còn trong thời hiệu để xử lý theo Điều 4 Nghị Định 221 điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính, nên việc họp xét hồ sơ là đúng theo quy định.
Về nội dung đề nghị họp xét: Trong hồ sơ cũng như lời trình bày của những người tham gia phiên họp thể hiện A bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2008. Từ ngày 21/3/2017 đến ngày 26/6/2017 A liên tục bị phát hiện sử dụng ma túy, bị lập biên bản xử lý về hành sử dụng trái phép chất ma túy, đã cam kết nhiều lần nhưng vẫn không tư bỏ được, cơ quan chuyên môn đã xác định A nghiện ma túy nên việc đưa A vào cai nghiện là điều kiện để A có cơ hội tránh xa ma túy. Để đảm bảo an toàn cho xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn khác tại địa phương; đồng thời tạo điều kiện để A sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy làm người có ích cho gia đình và xã hội, xét thấy cần phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A trong thời hạn như đề nghị là cần thiết.
Căn cứ Điều 95 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở bắt buộc (Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bình Phước) là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định.
Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc Người đại diện hợp pháp được khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bù Đốp, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp được quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ quan công an huyện Bù Đốp, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bù Đốp, Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bình Phước, Ủy ban nhân dân TT. L và ông A có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKS, TA tỉnh Bình Phước; - Công an, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp; - Phòng LĐ-TB&XH huyện Bù Đốp; - UBND TT. L; - Ông A; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Phạm Cao Khải |