- Tranh chấp gì? "Cai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh NQH.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/2024/QĐ-TA | Huyện G, ngày 22 tháng 01 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ H
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Minh Ngọc.
2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện G, thành phố H.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/2024/QĐ-TA ngày 18 tháng 01 năm 2024, đối với người bị đề nghị:
NQH, sinh năm 1975; Số định danh cá nhân/CMND: 001075002193; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 03/12; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn ĐV, xã P, huyện G, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông NVH (đã chết) và bà NTĐ (đã chết); gia đình có 04 anh chị em, NQH là con thứ ba; họ tên vợ: NTT, sinh năm 1982. NQH có 03 con, sinh năm 2005, 2006 và 2015; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án số 219 ngày 17/07/2017, Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh BN xử 1 năm 5 tháng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Ngày 17/05/2021 bị công an Phường ND, quận HBT, thành phố H xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
NQH hiện đang lưu trú tạm thời tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 H; địa chỉ: Xã T, huyện S, thành phố H từ ngày 27/12/2023, vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà NTCL; chức vụ: Chuyên viên; Theo Giấy ủy quyền số 16/LĐTBXH ngày 22/01/2024 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Bà TTAT – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:
Ngày 27/12/2023, anh NQH có Đơn tự nhận là người nghiện ma túy và Đơn không đăng ký đi cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế gửi tới Công an xã P. Tại đây, anh NQH khai nhận anh đã nghiện và sử dụng ma túy Heroine từ năm 2013, lần gần nhất sử dụng ma tuý là ngày 26/12/2023. Thực hiện xét nghiệm ma tuý đối với NQH: Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiệm ma túy ngày 27/12/2023 của Trạm y tế xã T thì NQH có nghiện ma túy (Heroin). Cùng ngày, Công an xã P và Ủy ban nhân dân xã P đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với NQH về hành vi “là người nghiện ma túy, không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy” và ra Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh NQH.
Ngày 17/01/2024, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G có Đề nghị số 34/ĐN-CNBB, đề nghị Tòa án nhân dân huyện G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 H đối với NQH.
Tại phiên họp hôm nay:
Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G có ý kiến: NQH là người nghiện ma túy trong nhiều năm, không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy nay lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, đề nghị Toà án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh NQH, thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 H.
Người bị đề nghị là anh NQH vắng mặt tại phiên họp và có đơn trình bày: Anh sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2013, loại ma tuý thường sử dụng là Heroine, nay anh đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh NQH là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân huyện G thụ lý và giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền. Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 2, 3, 31, 32 và Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; áp dụng các Điều 95, 96, 103, 105, 107 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; áp dụng khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh NQH, với thời hạn từ 18 tháng đến 22 tháng kể từ ngày anh NQH bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 27/12/2023.
XÉT THẤY:
[1] Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là anh NQH có đủ tài liệu, giấy tờ, đảm bảo đúng điều kiện, trình tự, thủ tục, thời hiệu theo quy định của pháp luật.
Anh NQH vắng mặt tại phiên họp và có yêu cầu xem xét vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp vắng mặt anh NQH theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[2] Người bị đề nghị là anh NQH tự nhận mình sử dụng và nghiện ma túy đã nhiều năm, nghề nghiệp không ổn định, lần gần nhất sử dụng ma tuý (loại Heroine) là ngày 26/12/2023. Ngày 27/12/2023, Công an xã P đã kiểm tra và Trạm y tế xã T xét nghiệm nước tiểu, kết quả xác định anh H có nghiện ma túy Heroin. Theo Biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC ngày 27/12/2023 của UBND xã P, Đơn tự nhận là người nghiện ma túy và Đơn không đăng ký đi cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế của anh NQH, thể hiện: NQH là người nghiện ma túy, không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy. Anh H nhận thức được việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, nghiện ma túy có hại cho sức khỏe của bản thân và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Năm 2017, NQH bị Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh BN xử 1 năm 5 tháng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 27/4/2018, NQH chấp hành xong hình phạt tù, do đó tính đến ngày 27/12/2023 NQH đã được xóa án tích đối với bản án này. Ngoài ra, nhân thân NQH còn có 01 tiền sự hết thời hiệu: Ngày 17/05/2021 bị công an Phường ND, quận HBT, thành phố H xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
[3] Tổng hợp những nhận định ở trên, có cơ sở xác định: NQH là người nghiện ma túy, thời gian nghiện ma tuý đã nhiều năm, trên 18 tuổi, không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy mà vẫn còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Điều 6 và Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H trong một thời gian nhất định là cần thiết, có căn cứ pháp luật, giúp anh H cai nghiện ma túy hiệu quả để sớm tái hòa nhập với cộng đồng, xã hội.
[4] Đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tại phiên họp phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Căn cứ các Điều 2, 3, 31, 32 và Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Áp dụng các Điều 95, 96, 103, 105, 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Áp dụng khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy;
Áp dụng các Điều 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48 và Điều 49 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh NQH.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 H; địa chỉ: Xã T, huyện S, thành phố H.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày anh NQH bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 27/12/2023.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này, anh NQH được quyền khiếu nại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện G.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định này, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G có quyền kháng nghị Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện G.
Anh NQH khiếu nại thì phải gửi đơn đến Tòa án đã xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính, trong đó nêu rõ lý do, căn cứ khiếu nại và tài liệu bổ sung (nếu có) để chứng minh cho khiếu nại của mình.
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G kháng nghị bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án đã xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G, Công an huyện G, Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 H, các cơ quan liên quan và anh NQH thi hành quyết định này./.
| Nơi nhận: - Công an huyện G (để thực hiện); - Phòng LĐTBXH huyện G (để thực hiện); - VKSND huyện G; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 H; - UBND xã P; - Anh NQH; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Minh Ngọc |