vanban.org

Quyết định 14/2024/QĐ-TA

TAND huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Tuyên án 07/08/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định số 90 ngày 01/7/2016 và Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Quang C. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Bùi Quang C bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 24/07/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định số 90 ngày 01/7/2016 và Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2024/QĐ – TAB, ngày 07 tháng 08 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Đặng Trần Anh Dũng.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Bảy.

Ngày 07/08/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 15/2024/QĐ - TA ngày 31/07/2024 đối với:

Họ và tên: Bùi Quang C, sinh năm: 1993; số căn cước công dân: 0350930030xx; nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; hiện đang bị quản lý tại Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bùi Duy T (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; vợ: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. (có mặt)

Phiên họp có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Phó Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Hà Nam.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam: Bà Nguyễn Thị Thúy Tình – Kiểm sát viên.

3. Đại diện Công an xã A: Ông Trần Nam Trung – Phó Trưởng Công an xã.

NHẬN THẤY:

Theo tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Quang C như sau:

Ngày 23/07/2024 bà Nguyễn Thị S là mẹ của Bùi Quang C có đơn đề nghị Công an xã A đưa C đi cai nghiện bắt buộc.

Tại Biên bản về việc xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu ngày 24/07/2024 của Trạm y tế xã A xác định Bùi Quang C dương tính với ma túy. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 24/07/2024 của Trạm y tế xã A đã xác định Bùi Quang C nghiện ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại Bản tường trình ngày 24/07/2024 và các Biên bản lấy lời khai của Công an xã A, Bùi Quang C thừa nhận bản thân nghiện ma túy đá và lần gần nhất sử dụng ma túy đá là vào ngày 22/07/2024.

Theo cung cấp của Trung tâm y tế huyện B, tỉnh Hà Nam thì đến ngày 24/7/2024, Bùi Quang C đang điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Trung tâm y tế huyện B, tỉnh Hà Nam.

Ngày 24/07/2024, Bùi Quang C bị Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi “Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngày 24/07/2024, Uỷ ban nhân dân xã A thông báo cho Bùi Quang C biết việc Uỷ ban nhân dân xã A lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C.

Sau khi Uỷ ban nhân dân xã A hoàn thành việc lập hồ sơ, Bùi Quang C đã được đọc hồ sơ và không có đề nghị hay ý kiến gì.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B có quan điểm: Bùi Quang C là người nghiện ma túy và đang điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Trung tâm y tế huyện B, tỉnh Hà Nam. Trong thời gian điều trị C có xét nghiệm dương tính với các chất ma túy khác ngoài các chất dạng thuốc phiện. Do vậy Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B đề nghị Tòa án nhân dân huyện B áp dụng biện pháp đưa C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm điều trị nghiện ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam, địa chỉ: Thị trấn Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam với thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

Tại phiên họp, người bị đề nghị - Bùi Quang C trình bày quan điểm: Việc anh bị Uỷ ban nhân dân xã A, huyện B lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa anh vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thực tế. Anh không có đề nghị hay ý kiến gì về hồ sơ. Anh đề nghị xem xét giảm thời gian cai nghiện bắt buộc đối với anh.

Tại phiên họp, đại diện Công an xã A có quan điểm: Nhất trí với quan điểm của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân huyện B thụ lý hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng thẩm quyền; quá trình chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họp Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa Bùi Quang C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng quy định do vậy đề nghị Tòa án nhân dân huyện B chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B về việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Quang C theo quy định với thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa Bùi Quang C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020. Hồ sơ được lập đúng thẩm quyền theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật Phòng chống ma túy, Nghị định số 90 ngày 01/7/2016 và Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021.

Xét thấy Bùi Quang C là đối tượng nghiện ma túy; mặc dù đang điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone nhưng khi xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu thì C đã dương tính với các chất ma túy khác.

Ngày 24/07/2024, Bùi Quang C đã được đọc và giao nhận hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. C không phản đối, khiếu nại về việc bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Từ những phân tích trên, xét thấy hồ sơ đã đầy đủ thủ tục theo quy định tại khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 2 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy; Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ và đúng thực tế vì vậy thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Quang C để giúp đỡ, giáo dục C từ bỏ việc nghiện ma túy, trở thành một công dân tốt, biết chấp hành pháp luật; góp phần ổn định tình hình trật tự và an toàn xã hội tại địa phương cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa đẩy lùi tệ nạn nghiện ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bùi Quang C không được hưởng tình tiết nào.

Về tình tiết tăng nặng: Bùi Quang C không phải chịu tình tiết nào.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 3; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Áp dụng khoản 2 Điều 105; Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020;

Áp dụng khoản 2 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định số 90 ngày 01/7/2016 và Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Quang C.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Bùi Quang C bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 24/07/2024).

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; Bùi Quang C có quyền làm đơn khiếu nại quyết định gửi đến Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị quyết định bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện B, tỉnh Hà Nam chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Hà Nam đưa Bùi Quang C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thông báo cho Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam biết kết quả thi hành./.

Cỡ chữ