- Tranh chấp gì? "Đỗ Hữu T"
- Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện Ông Đỗ Hữu T.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/2024/QĐ-PT | Hà Nội, ngày 01 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn V
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Xuân P
Bà Nguyễn Thị Thanh X
Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Xuân T, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Trọng V, Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 05/2023/QĐST-HC ngày 21 tháng 9 năm 2023.
Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143; Điều 144; khoản 2 Điều 165; khoản 2 Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:
1. Người khởi kiện: Ông Đỗ Hữu T, sinh năm 1937; địa chỉ: Thôn Bình Dân, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Châm, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm 5, khu phố Phủ, thị trấn Khoái Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Khoái Ch, tỉnh HY; địa chỉ: Thị trấn Khoái Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Hữu C, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn Bình Dân, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Cường: Luật sư Phan Minh Thanh - Văn phòng luật sư Ban Mai, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.
Ngày 26/9/2023, người khởi kiện Ông Đỗ Hữu T có đơn kháng cáo để nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng: Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 05/2023/QĐST-HC ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên với lý do quyết định nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
XÉT THẤY:
Về tố tụng: Kháng cáo của Ông Đỗ Hữu T trong thời hạn luật định nên cần được chấp nhận để xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 47 diện tích 480m2 đất tại thôn Bình Dân, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên của của cụ Đỗ Hữu Bút (là bố đẻ của Ông Đỗ Hữu T, ông nội của anh Đỗ Hữu C). Cụ Bút mất năm 1980. Trước khi cụ Bút mất có để lại “Gi Lai” cho Ông Đỗ Hữu T.
Ngày 10/9/2009, Ông Đỗ Hữu T và vợ là bà Nguyễn Thị Bang lập Di chúc để giao quyền sử dụng đất cho con trai là anh Đỗ Hữu C. Di chúc thể hiện ý chí của ông Tá và bà Bang, phần đất do tổ tiên để lại được chia cho anh Cường, còn phần đất ông bà mua được thì chia cho anh Đỗ Hữu Tùng (là con trai thứ của ông, bà).
Năm 2009, Ủy ban nhân dân xã Tân Dân đã tiến hành đo đạc, lập Bản đồ Vlap. Ông Tá và bà Bang là người trực tiếp chỉ dẫn, đo đạc lập bản đồ và để anh Cường đứng tên kê khai đăng ký quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên. Ngày 28/9/2011, Ủy ban nhân dân huyện Khoái Châu đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 286509 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 47, diện tích 480m2 tại thôn Bình Dân, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đứng tên anh Đỗ Hữu C. Kết quả phê duyệt đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được UBND xã Tân Dân niêm yết công khai tại thôn Bình Dân và thông báo trên loa truyền thanh của thôn. Căn cứ lời khai của bà Nguyễn Thị Bang và chị Đỗ Thị Vân Anh (con gái của ông Tá, bà Bang) đều thừa nhận trước khi ông Tá giao đất thì ông Tá, bà Bang và các thành viên trong gia đình có họp bàn, thống nhất cho anh Cường mảnh đất mà các cụ để lại; khi anh Cường được cấp GCNQSDĐ có mang về cho ông bà cùng các anh, chị em trong gia đình xem và không ai có ý kiến gì.
Năm 2012, anh Đỗ Hữu C đã tiến hành xây dựng mới lại toàn bộ công trình trên đất gồm nhà, sân, cổng và tường bao. Ông Đỗ Hữu T và các thành viên trong gia đình đều biết và cũng không ai có ý kiến gì.
Năm 2015, khi anh Cường xây dựng công trình phụ tiếp giáp với hộ liền kề đã xảy ra tranh chấp, ông Tá và anh Cường đã kiểm tra, đối chiếu diện tích thực tế với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định Ông Đỗ Hữu T đã biết rõ việc anh Đỗ Hữu C được cấp GCNQSDĐ từ năm 2011. Năm 2021, ông Tá có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Khoái Châu cấp cho anh Cường là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Ông Đỗ Hữu T không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án, nếu việc khởi kiện không có gì khác đối với vụ án đã bị đình chỉ là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện Ông Đỗ Hữu T, giữ nguyên quyết định sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên là có căn cứ pháp luật. Do đó cấp phúc thẩm thấy cần phải giữa nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Về án phí: Ông Đỗ Hữu T được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện Ông Đỗ Hữu T.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 05/2023/QĐST-HC ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
[2] Về án phí: Ông Đỗ Hữu T được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của quyết định sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hưng Yên; - Cục THADS tỉnh Hưng Yên; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu HSVA; P.HCTP./. CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Xuân Phách Nguyễn Thị Thanh Xuân | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn V THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Vũ Đông |