vanban.org

Quyết định 14/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 21/11/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Dương Văn T.

Tuyên bố ông Dương Văn P, sinh năm 1968; Nơi cư trú: thôn D, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. 2. Về người giám hộ: anh Dương Văn T là người giám hộ của ông Dương Văn P. Anh Dương Văn T có quyền, nghĩa vụ của người giám hộ đối với ông Dương Văn P là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Dương Văn Tú"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Dương Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN H.TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2023/QĐST- VDSTân Yên, ngày 21 tháng 11 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ

hành vi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đoàn Thị Oanh

Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thị Vân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 14/2023/TLST-VDS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 14/2023/QĐST- VDS ngày 17 tháng 11 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

+ Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Anh Dương Văn T, sinh năm 1995 (có mặt)

Nơi cư trú: thôn D, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Dương Văn P, sinh năm 1968 (vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965 (có mặt )

- Anh Dương Văn T2, sinh năm 1998 (có mặt)

Đều cư trú: thôn D, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn đề nghị giải quyết việc dân sự, bản tự khai của anh Dương Văn T và tại phiên họp anh Túc trình bày:

Anh là con trai của ông Dương Văn P và bà Nguyễn Thị T1. Bố mẹ anh chung sống với nhau từ năm 1994 trên cơ sở tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Bố mẹ anh sinh được 2 người con gồm có anh là con trai thứ nhất và con thứ hai là Dương Văn T2, hiện cả hai anh em anh đều ở chung cùng với bố mẹ. Khi bố anh còn nhỏ bị viên não nhật bản để lại di chứng chậm phát triển tâm thần. Năm 1992, gia đình phát hiện bố anh bị các cơn co giật toàn thân, mỗi khi bị co giật bố anh không biết gì. Sau đó bố anh đi khám tại Bệnh viện tâm thần tỉnh B, được chuẩn đoán bị động kinh cơn lớn và được cấp sổ điều trị ngoại trú hàng tháng kể từ năm 2013. Hiện nay bố anh tuy có đi lại được nhưng không biết làm gì, đi ra khỏi nhà không biết đường về, tính tình bố anh bất thường. Cứ khoảng 8 ngày đến 10 ngày lại lên cơn động kinh một lần, phải có người chăm sóc bố anh hàng ngày. Nay do tất cả các anh, chị, em ruột của bố anh đều thống nhất để cho anh là con trai cả của bố anh được hưởng phần di sản của ông bà nội anh đã chết để lại nhưng do bố anh đang điều trị bệnh tâm thần và động kinh cơn lớn nên cơ quan có thẩm quyền không chấp nhận để bố anh ký điểm chỉ vào các văn bản phân chia di sản thừa kế. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án tuyên bố ông Dương Văn P là bố đẻ của anh là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do bố mẹ anh chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn, anh là con cả của bố mẹ anh là người giám hộ của bố anh, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai của bà Nguyễn Thị T1, anh Dương Văn T2 và tại phiên họp bà T1, anh T2 đều trình bày: khi ông P còn nhỏ bị viên não nhật bản để lại di chứng chậm phát triển tâm thần. Năm 1992, gia đình phát hiện ông P bị các cơn co giật toàn thân, mỗi khi bị co giật ông P không biết gì. Sau đó gia đình đưa ông P đi khám tại Bệnh viện tâm thần tỉnh B, được chuẩn đoán bị động kinh cơn lớn và được cấp sổ điều trị ngoại trú hàng tháng kể từ năm 2013. Hiện nay ông P tuy có đi lại được nhưng không biết làm gì, đi ra khỏi nhà không biết đường về, tính tình thay đổi bất thường. Cứ khoảng 8 ngày đến 10 ngày lại lên cơn động kinh một lần, phải có người chăm sóc ông P hàng ngày. Đến nay anh Dương Văn T đề nghị Tòa án tuyên bố ông Dương Văn P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi bà T1, anh T2 cũng đồng ý theo yêu cầu của anh Túc. Bà T1, anh T2 đồng ý để anh Dương Văn T là người giám hộ cho ông P theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của anh Dương Văn T tuyên bố ông Dương Văn P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Anh Dương Văn T là người giám hộ cho ông Dương Văn P theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên nhận định:

Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền giải quyết: anh Dương Văn T yêu cầu giải quyết tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đối với ông Dương Văn P, nơi cư trú: thôn D, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải quyết yêu cầu việc dân sự là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai của anh Dương Văn T, anh Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị T1 trình bày ông Dương Văn P, sinh năm 1968, nơi cư trú: thôn D, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang bị co giật toàn thân, mỗi khi bị co giật không biết gì. Ông Dương Văn P được chuẩn đoán bị động kinh cơn lớn và được cấp sổ điều trị ngoại trú hàng tháng kể từ năm 2013. Hiện nay ông P tuy có đi lại được nhưng không biết làm gì, đi ra khỏi nhà không biết đường về, tính tình thay đổi bất thường, phải có người chăm sóc thường xuyên. Tại kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 186/2023/SKTTNT ngày 17/11/2023 của Trung Tâm P1 Tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận ông Dương Văn P bị bệnh động kinh/ chậm phát triển tâm thần nhẹ. Hiện tại ông Dương Văn P có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Nay anh Túc có đơn đề nghị tuyên bố ông Dương Văn P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Xét thấy, anh Dương Văn T yêu cầu tuyên bố ông Dương Văn P có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang là có căn cứ theo khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự. Tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật dân sự quy định: “ Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ”. Ông Dương Văn P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh Dương Văn T tuyên bố ông Dương Văn P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Về người giám hộ cho ông P: Bà Nguyễn Thị T1 chung sống với ông P từ năm 1994 nhưng không đăng ký kết hôn nên bà T1 không phải là vợ của ông P. Tại bản tự khai bà Nguyễn Thị T1, anh Dương Văn T và anh Dương Văn T2 là các thành viên trong gia đình đều thống nhất để anh Dương Văn T là giám hộ cho ông P. Xét thấy anh Túc là con trai của của ông P, đang là người trực tiếp chăm sóc ông P và là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Vì vậy yêu cầu về cử anh Túc là người giám hộ cho ông P là có căn cứ được Tòa án chấp nhận theo quy định Điều 49, khoản 2 Điều 53, Điều 54, Điều 57, Điều 58 của Bộ luật dân sự.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: anh Dương Văn T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 377, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 23, Điều 49, khoản 2 Điều 53, Điều 54, Điều 57, Điều 58 của Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Dương Văn T.

Tuyên bố ông Dương Văn P, sinh năm 1968; Nơi cư trú: thôn D, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. 2. Về người giám hộ: anh Dương Văn T là người giám hộ của ông Dương Văn P. Anh Dương Văn T có quyền, nghĩa vụ của người giám hộ đối với ông Dương Văn P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật. 3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: anh Dương Văn T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai thu số 0006513 ngày 20/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Dương Văn T đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự. 4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự đối với quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ