vanban.org

Quyết định 14/2023/QĐ-TA

TAND TP. Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 27/04/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định này, Trần Thanh N có quyền khiếu nại; Phòng Lao động -… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh N.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2023/QĐ-TABà Rịa, ngày 27 tháng 4 năm 2023.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Trí Thức.

2. Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Thắm.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 13/QĐ-TA ngày 20 tháng 4 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Trần Thanh N, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: làm nông; Nguyên quán: tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Tổ 12, ấp B, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Cha: Trần Văn G, mẹ: Trần Thị Út T;

Tiền án: Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện L xử phạt 04 năm tù về tội cướp giật;

Tiền sự: không.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lý Vĩnh Bảo T - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Bà Phạm Võ Trúc L - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 07-3-2023 Trần Thanh N bị Công an xã L phối hợp cùng với Cơ quan y tế xã L, thành phố B tiến hành kiểm tra và xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy đối với N. Kết quả dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, xác định N là người nghiện ma túy nên lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với N. Do N từ chối cai nghiện ma túy tự nguyện nên Công an xã L lập hồ sơ đề nghị đưa N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Tại phiên họp:

- Ý kiến đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B: N là đối tượng nghiện ma túy, ngày 07-3-2023 N bị Công an xã L, thành phố B lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua làm việc, N từ chối cai nguyện ma túy tự nguyện. Căn cứ Điều 32 Luật phòng, chống ma túy, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa N vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định.

- Ý kiến của người bị đề nghị: Vắng mặt tại phiên họp.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát: Trình tự thủ tục áp dụng biện pháp xử lý đối với Trần Thanh N là đầy đủ và đúng quy định. Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với người bị nghiện là cần thiết, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị, xem xét tính chất mức độ vi phạm quyết định mức thời gian đưa N vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định.

XÉT THẤY:

Trần Thanh N là người nghiện ma túy, có đăng ký thường trú tại Tổ 12, ấp B, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quá trình làm việc, N từ chối đăng ký cai nghiện ma túy hình thức tự nguyện. Do đó, việc cơ quan chức năng có thẩm quyền lập hồ sơ và đề nghị đưa Nhân vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định tại Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Theo lời khai có trong hồ sơ, N đã thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp lời trình bày của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B nên có cơ sở xác định N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 07-3-2023 của Cơ quan y tế xã L, thành phố B, kết luận N là người nghiện ma túy loại Methamphetamine. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của N đã vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy.

Xét thấy, việc nghiện ma túy làm giảm sức khỏe của bản thân người sử dụng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Bản thân N đang có tiền án về hành vi cướp giật tài sản nay lại tiếp tục vi phạm sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần thiết phải quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N một thời gian tương xứng với hành vi và mức độ vi phạm để cai nghiện, học tập và lao động.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 3, Điều 22 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 95, Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định này, Trần Thanh N có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xem xét lại quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B; Công an thành phố B có trách nhiệm thi hành quyết định này. * Nơi nhận:

Cỡ chữ