vanban.org

Quyết định 14/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Đào Thị Xuân M về việc “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” đối với ông Đào Nguyễn Ngọc Q.

Tuyên bố: Ông Đào Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1987; Trú tại: Tổ A1 phường B1 quận C1, thành phố Đà Nẵng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định bà Đào Thị Xuân M, sinh năm 1963; Trú tại: Tổ A phường B quận C, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (là chị ruột của ông Đào Nguyễn Ngọc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Đào Thị Xuân M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Đào Thị Xuân M về việc “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” đối với ông Đào Nguyễn Ngọc Q.
  • Căn cứ chính? Điều 23 Bộ luật Dân sự tuyên bố ông Đào Nguyễn Ngọc Q; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2022/QĐST-DSThanh Khê, ngày 24 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức,

làm chủ hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần phiên họp giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Bảo Huyền Trân

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 66/2022/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2022 về việc "Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 66/2022/QĐST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đào Thị Xuân M, sinh năm 1963; Trú tại: Tổ A phường B quận C, thành phố Đà Nẵng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Đào Thị Ngọc T, sinh năm: 1967; Địa chỉ: Tổ A1 phường B1 quận C1, thành phố Đà Nẵng.

2/ Bà Đào Thị Ngọc Th, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Tổ A2 phường B2 quận C2, thành phố Đà Nẵng.

3/ Ông Đào Ngọc S, sinh năm: 1970; Địa chỉ: Tổ A3 phường B3 quận C3, thành phố Đà Nẵng.

4/ Ông Đào Nguyễn Ngọc K, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Tổ A4 phường B4 quận C4, thành phố Đà Nẵng.

5/ Ông Đào Nguyễn Ngọc Kh, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Tổ A5 phường B5 quận C5, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Đào Nguyễn Ngọc Q là em ruột của bà Đào Thị Xuân M. Ông Q là con của ông Đào Xuân V (chết ngày 25/02/2017) và bà Nguyễn Thị C (chết ngày 07/12/2014). Từ khi sinh ra, ông Q đã mắc bệnh không rõ nguyên nhân khiến ông không thể tự vận động và khó khăn trong việc nhận thức, làm chủ hành vi của mình. Hàng ngày, mọi sinh hoạt như vệ sinh cá nhân hay ăn uống, đi lại đều phải có sự giúp đỡ của những người khác. Tuy nhiên, về nhận thức thì ông Q vẫn có thể nhận thức được một số vấn đề đơn giản trong cuộc sống. Gia đình đã cố gắng chạy chữa nhưng bệnh tình không thuyên giảm.

Năm 2017, UBND quận Thanh Khê có Quyết định về việc trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng số 1206/QĐ-UBND xác nhận ông Q là người khuyết tật đặc biệt nặng. Nay để có cơ sở giải quyết công việc trong gia đình cũng như để đảm bảo quyền lợi của ông Q, bà Đào Thị Xuân M yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đào Nguyễn Ngọc Q là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Đào Thị Xuân M, đồng thời áp dụng các Điều 378 Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 23 Bộ luật Dân sự tuyên bố ông Đào Nguyễn Ngọc Q có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, chỉ định bà Đào Thị Xuân M là người giám hộ cho ông Đào Nguyễn Ngọc Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Đào Thị Xuân M yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đào Nguyễn Ngọc Q là người có khó khăn trong trong nhận thức, làm chủ hành vi. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật yêu cầu "Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Về nội dung: Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với ông Đào Nguyễn Ngọc Q. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1056/KLGĐ ngày 03/6/2022 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực miền Trung kết luận ông Đào Nguyễn Ngọc Q như sau: "Về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ trung bình (F71); Về năng lực hành vi dân sự: Khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi".

Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 23 của Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận đơn yêu cầu của bà Đào Thị Xuân M về việc “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” đối với ông Đào Nguyễn Ngọc Q như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và kết luận giám định của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực miền Trung.

Đồng thời, theo Văn bản thỏa thuận cử người giám hộ ngày 22/4/2022 được ký kết giữa các thành viên trong gia đình thể hiện các ông bà đều thống nhất cử bà Đào Thị Xuân M là người giám hộ của ông Đào Nguyễn Ngọc Q. Do đó, Tòa án chỉ định bà Đào Thị Xuân M là người giám hộ cho ông Đào Nguyễn Ngọc Q.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Đào Thị Xuân M phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

Chi phí trưng cầu giám định: 1.233.750đ (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng) bà Đào Thị Xuân M phải chịu (đã nộp và đã chi).

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 19, 23 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các Điều 370, 371, 372, 376 và 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của Đào Thị Xuân M về việc “Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” đối với ông Đào Nguyễn Ngọc Q.

1. Tuyên bố: Ông Đào Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1987; Trú tại: Tổ A1 phường B1 quận C1, thành phố Đà Nẵng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Chỉ định bà Đào Thị Xuân M, sinh năm 1963; Trú tại: Tổ A phường B quận C, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (là chị ruột của ông Đào Nguyễn Ngọc Q) là người giám hộ cho ông Đào Nguyễn Ngọc Q.

Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật dân sự.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Đào Thị Xuân M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0002668 ngày 22/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà M đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Chi phí trưng cầu giám định: 1.233.750đ (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng) bà Đào Thị Xuân M phải chịu (đã nộp và đã chi).

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ